1. Khái quát chung về thủ tục rút gọn

Hiện nay, trong hệ thống pháp luật của nhiều nước trên thế giới đều có xây dựng và áp dụng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn để giải quyết một số loại vụ án dân sự nhất định. Xét một cách khái quát thì tuy pháp luật m i nước có những đặc th  riêng nhưng nhìn chung TTRG trong tố tụng dân sự được hiểu  là một thủ tục đơn giản hơn thủ tục tố tụng thông thường về thành phần hội đồng xét xử, về thời gian tiến hành tố tụng… đối với các vụ án có nội dung tranh chấp tương đối rõ ràng, bị đơn đã thừa nhận hoặc không phản đối yêu cầu của nguyên đơn, các vụ án có giá ngạch thấp hoặc do các bên đương sự lựa chọn giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự rút gọn.
Trong mối quan hệ giữa xét xử theo thủ tục tố tụng thông thường và thủ tục xét xử theo TTRG thì thủ tục tố tụng dân sự thông thường là cơ sở cho việc áp dụng giải quyết vụ án theo TTRG và TTRG là sự lược hoá một số bước của thủ tục tố tụng thông thường. Tuy nhiên, thủ tục tố tụng dân sự rút gọn không phải là thủ tục phụ thuộc vào thủ tục tố tụng thông thường mà TTRG là một thủ tục tố tụng độc lập tương đối so với thủ tục tố tụng thông thường. Tính độc lập của thủ tục tố tụng rút gọn thể hiện trong trường hợp nếu các điều kiện xét xử theo thủ tục tố tụng rút gọn không còn đáp ứng thì vụ việc vẫn có thể được giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường.
Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn là một quy trình tố tụng riêng biệt được Tòa án áp dụng để giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động có nội dung đơn giản, rõ ràng, có giá ngạch thấp hoặc các bên đương sự thoả thuận lựa chọn thủ tục này. Theo đó, trong một thời hạn ngắn ngắn, Thẩm phán độc lập tiến hành xem xét và ra phán quyết về vụ án tranh chấp mà không nhất thiết phải tuân theo tuần tự các bước như trong thủ tục tố tụng thông thường.

2. Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn theo pháp luật của một số nước trên thế giới

Trên thế giới, bên cạnh thủ tục tố tụng thông thường, nhiều nước đã xây dựng thủ tục tố tụng rút gọn summary procedure) để áp dụng xử lý những vi phạm pháp luật nh , giải quyết những tranh chấp, khiếu kiện có giá trị thấp, những vụ việc đơn giản, chứng cứ rõ ràng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa án, khắc phục nhanh chóng những vấn đề nảy sinh trong xã hội, tiết kiệm thời gian, vật chất cho Tòa án và các đương sự, không làm trầm trọng thêm những vụ việc, có thể giải quyết nhanh, theo trình tự đơn giản, góp phần ổn định xã hội.

2.1 Thủ tục tố tụng rút gọn trong pháp luật tố tụng dân sự Pháp

Hệ thống Tòa án tư pháp của Pháp hiện nay được tổ chức và hoạt động theo tinh thần của Hiến pháp năm 1958 và Luật về tổ chức Tòa án tư pháp. Theo đó, thẩm quyền giải quyết các vụ án đơn giản, những tranh chấp  nh được giao cho Tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp. Cơ cấu tổ chức của hệ thống Tòa án Pháp hiện có 476 Tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp bên cạnh 185 Tòa án sơ thẩm thẩm quyền chung.
Tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp chuyên xét xử các vụ án dân sự nh , có giá trị tranh chấp không vượt quá 10.000 EUR (các vụ án tranh chấp về hợp đồng thuê nhà ở, giải quyết yêu cầu giám hộ, kê biên đối với tiền lương, thưởng …). Tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp xét xử vụ án bằng một Thẩm phán duy nhất và các bên tham gia tố tụng không nhất thiết phải có luật sư.
Tại Tòa sơ thẩm thẩm quyền hẹp có thủ tục xét xử rút gọn để áp dụng giải quyết đối với các vụ án có giá trị tranh chấp không vượt quá 4.000 EUR  tương đương 115 triệu đồng Việt Nam). Theo thủ tục này, người tham gia giải quyết các vụ án không phải là Thẩm phán chuyên trách mà là các Thẩm phán được tuyển chọn từ những người có kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực pháp luật, làm việc tại Tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp. Những Thẩm phán này không hưởng lương từ ngân sách nhà nước, được bổ nhiệm với nhiệm kỳ 7 năm và không được tái nhiệm.
Trong cơ cấu tổ chức của Tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp có Tòa vi cảnh (Tribunal de Police) có thẩm quyền xét xử các tội vi cảnh, những vi phạm hình sự nh . Việc xét xử loại tội này của Tòa vi cảnh do 1 Thẩm phán tiến hành.

2.2 Nga

Thủ tục ra lệnh thanh toán nợ theo pháp luật tố tụng dân sự
Trong pháp luật tố tụng dân sự Nga chỉ quy định một thủ tục chung là thủ tục ra lệnh (ban hành quyết định). Theo Điều 121 BLTTDS Nga thì lệnh của Tòa án – quyết định của Tòa án do một Thẩm phán ban hành dựa trên yêu cầu đòi nợ hoặc đòi lại tài sản khi có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật Nga. Điều 121 BLTTDS Nga quy định Tòa án cấp lệnh, nếu:
- Yêu cầu căn cứ vào giao dịch đã được công chứng;
- Yêu cầu căn cứ vào giao dịch được thực hiện dưới hình thức văn bản viết không cần công chứng, chứng thực;
- Yêu cầu đòi tiền cấp dưỡng cho trẻ chưa thành niên không liên quan đến việc xác định cha, mẹ hoặc không liên quan đến việc phải triệu tập thêm người khác;
- Yêu cầu công dân nộp khoản thuế bị thất thu hoặc nộp những khoản tiền bắt buộc khác;
- Yêu cầu đòi khoản tiền lương đã được chấm công nhưng chưa được trả người lao động.
- Yêu cầu của các cơ quan công an, cơ quan thuế vụ, cơ quan thừa phát lại đòi hoàn trả chi phí cho việc tìm kiếm bị đơn, người có nghĩa vụ và tài sản của người đó, hoặc chi phí cho việc tìm kiếm trẻ em bị người có nghĩa vụ đem đi mất, hoặc chi phí liên quan đến việc bảo quản tài sản của người có nghĩa vụ bị thu giữ và bảo quản tài sản của người có nghĩa vụ khi bị buộc chuyển đi nơi ở khác.
Về thủ tục ra lệnh thanh toán, theo quy định tại Điều 126 BLTTDS Nga thì lệnh thanh toán được ban hành trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mà không cần phải mở phiên toà xét xử và không phải triệu tập các bên để nghe lời giải thích của họ. Sau khi ra lệnh, Thẩm phán gửi bản sao lệnh của Tòa án cho người có nghĩa vụ thi hành. Người có nghĩa vụ có quyền phản đối trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận bản sao. Nếu người có nghĩa vụ phản đối trong thời hạn luật định, Thẩm phán huỷ b  lệnh của Tòa án.  Trong trường hợp hết thời hạn luật định mà người có nghĩa vụ không phản đối, Tòa án chuyển cho người yêu cầu bản thứ hai lệnh của Tòa án để đưa ra thi hành Điều 128, 129, 130 BLTTDS Nga).

2.3 Thủ tục rút gọn trong pháp luật tố tụng dân sự Nhật Bản

Thẩm quyền giải quyết các vụ việc theo TTRG ở Nhật Bản được giao cho Tòa án giản lược thực hiện. Hiện tại, Nhật Bản có 438 Tòa án giản lược được thành lập ở các thành phố, thị trấn. Tòa giản lược có thẩm quyền xét xử các vụ án dân sự có giá trị tranh chấp dưới 1.400.000 Yên tương đương 300 triệu đồng Việt Nam) và các vụ án hình sự nh , có mức hình phạt là phạt tiền hoặc các hình phạt không nghiêm trọng. Theo nguyên tắc chung, Tòa án giản lược không có thẩm quyền quyết định các hình phạt tù không lao động hoặc các hình phạt tù nghiêm khắc hơn. Khi xác định hình phạt đối với bị cáo trong vụ án có thể vượt quá khung hình phạt cho phép thì Tòa án giản lược chuyển vụ án cho Tòa án sơ thẩm giải quyết.
Tòa án giản lược ở các thành phố lớn, nơi có các Tòa sơ thẩm thường có một số Thẩm phán; ở những v ng ít dân cư thì chỉ có 1 Thẩm phán.
Thẩm phán của Tòa án giản lược phải là người đã qua 2 năm làm Phụ thẩm, Công tố hoặc Luật sư. Tuy nhiên, người không được đào tạo về luật nhưng có năng lực cũng có thể được bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án giản lược.
Theo quy định của Luật Tòa án Nhật Bản, thì tại Tòa án giản lược,  các vụ án đều do 1 Thẩm phán xét xử; tính chất đơn giản trong tố tụng giản lược được phản ánh trong các quy định của pháp luật tố tụng như: thủ tục khởi kiện bằng miệng, thủ tục triệu tập được đơn giản hóa, biên bản xét xử đơn giản và bản án ngắn gọn hơn các bản án của Tòa án thông thường. Chức năng hành chính tại Tòa án giản lược do chính Thẩm phán thực hiện. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm các công chức của Tòa án giản lược thuộc thẩm quyền của Tòa án sơ thẩm.

2.4 Thủ tục rút gọn trong pháp luật tố tụng dân sự Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

Hệ thống Tòa án Trung Quốc được tổ chức theo 4 cấp là: TAND tối cao, TAND cấp cao, TAND trung cấp và TAND sơ cấp. Hiện tại, Trung Quốc có hơn 10.000 TAND sơ cấp – Cấp Tòa án thấp nhất trong hệ thống Tòa án, có thẩm quyền xét xử hầu hết các vụ án theo thủ tục sơ thẩm (trừ một số ít vụ án quan trọng thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án cấp trên). Tại TAND sơ cấp, TTRG được áp dụng đối với một số vụ án cụ thể trong cả lĩnh vực hình sự và dân sự.
Theo quy định tại Điều 141 của BLTTDS Trung Quốc, thì việc xác định vụ án được xét xử theo TTRG căn cứ vào ba tiêu chí như sau:
(1) Tranh chấp giữa các đương sự có sự thật rõ ràng mà hai bên đương sự cơ bản nhất trí, chứng cứ đưa ra rõ ràng. Tòa án không cần phải tiến hành công việc điều tra, thu thập chứng cứ mà vẫn có thể làm rõ được sự thật, đúng sai của vụ án;
(2) Quan hệ pháp luật về tranh chấp giữa các bên đã rõ về việc bên nào được hưởng quyền lợi, bên nào phải gánh vác nghĩa vụ. Đồng thời quan hệ pháp luật về việc giải quyết tranh chấp đó cũng đã được quy định tương đối rõ ràng;
(3) Tranh chấp mà hai bên không có bất đồng lớn về đúng sai, trách nhiệm của các bên trong vụ án và các khoản chi phí tố tụng.
Điểm đặc biệt của TTRG trong tố tụng dân sự của Trung Quốc là việc khởi kiện có thể thực hiện bằng miệng. Hai bên đương sự đồng thời đến Tòa án để đề nghị giải quyết tranh chấp. Tùy từng trường hợp, TAND có thể xét xử ngay hoặc có thể ấn định một ngày khác để xét xử. Tòa án có thể thông báo bằng miệng hoặc bằng văn bản cho đương sự về nội dung khởi kiện mà không cần phải tiến hành các thủ tục thông báo chính thức như đối với thủ tục thông thường. Tòa án có thể sử dụng phương thức đơn giản để truyền gọi đương sự, nhân chứng. Việc xét xử theo TTRG do một Thẩm phán tiến hành, không nhất thiết phải tuân thủ lần lượt các trình tự, thủ tục mà có thể linh hoạt. Thời hạn  để Tòa án giải quyết vụ án theo TTRG phải kết thúc trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày lập án.
Ngoài ra, TTRG còn được quy định trong pháp luật tố tụng dân sự của một số nước Châu Á khác như: Đài Loan, Thái Lan, Singapore…

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê