​1. Xác định quyền sở hữu tài sản theo quy định pháp luật hiện hành

Theo Điều 158 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền sở hữu như sau: "Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật."

Theo đó:

  • Quyền chiếm hữu là quyền của một chủ thể pháp luật được nắm giữ, quản lí tài sản trên thực tế hoặc danh nghĩa pháp lí theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ.
  • Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Quyền sử dụng còn bao gồm quyền lựa chọn cách sử dụng tài sản và quyền không sử dụng tài sản.
  • Quyền định đoạt là một quyển năng của chủ sở hữu để quyết định về "số phận" của vật. Có nghĩa là người có quyền có thể bán, tặng cho hoặc thay đổi tính tăng của tài sản đó theo quy định của pháp luật.

=> Như vậy, quyền sở hữu có thể hiểu theo hai nghĩa:

- Nghĩa rộng, quyền sở hữu là luật pháp về sở hữu trong một hệ thống pháp luật nhất định. Do đó, quyền sở hữu là tổng hợp một hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, những của cải vật chất trong đời sống xã hội.

- Nghĩa hẹp, quyền sở hữu là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt trong những điều kiện nhất định.Với cách hiểu này thì quyền sở hữu chính là những quyền năng dân sự chủ quan của từng loại chủ sở hữu nhất định đối với một tài sản cụ thể, được quy định trong các quy phạm pháp luật về sở hữu cụ thể.

Ví dụ: Anh Văn B nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyển sở hữu nhà ở gắn liền với đất từ anh Đ, đã thực hiện thủ tục sang tên và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Như vậy ta xác định quyền của anh B như sau:

- Anh B có quyền sở hữu đối với căn nhà trên mảnh đất đã nhận chuyển nhượng ( tài sản ở đây là bất động sản hiện có)

- Anh B có quyền sử dụng đất, bản chất ở đây là anh A có quyền sở hữu đối với quyền tài sản (hay chính là quyền sở hữu đối với quyền sử dụng đất). Vì đất đai là loại tài sản đặc biệt, thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu trao quyền sử dụng cho người dân. Chính bởi vậy, anh B có quyền sở hữu tài sản với quyền sử dụng đất chứ không phải quyền sở hữu với đất.

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Mẫu hợp đồng thuê nhà thuộc sở hữu nhà nước mới nhất năm 2021

2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra được xác định như thế nào?

- Cơ sở pháp luật: điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015

"Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này."

Như vậy, khi tài sản gây ra thiệt hại theo nguyên tắc "chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại".

Tuy nhiên nếu trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại thì tài sản gây thiệt hại, người là "chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản" sẽ không phỉ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Tội xâm phạm sở hữu là gì ? Các tội thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu

3. Tài sản theo quy định pháp luật dân sự hiện hành

Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai.

- Cơ sở pháp lý: điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015

"Điều 105. Tài sản

1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.

2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai."

Theo đó:

- Bất động sản bao gồm:

+ Đất đai;

+ Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;

+ Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;

+ Tài sản khác theo quy định của pháp luật.

>> Xem thêm:  Mẫu giấy ủy quyền tham gia đấu giá tài sản, đất đai mới 2021

- Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.

- Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch.

- Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm:

+ Tài sản chưa hình thành;

+ Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch.

Trân trọng!

4. Trường hợp có sự vi phạm quy định về quản lý tài sản, trách nhiệm bồi thường thiệt hại như thế nào?

Quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền dân sự của cá nhân, đó chính là năng lực pháp luật dân sự mà pháp luật quy định cho cá nhân được hưởng. Mặt khác, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra. Do đó, chủ sở hữu của tài sản có thể là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, cũng có thể là người có một phần hoặc không có năng lực hành vi dân sự. Nên tài sản có thể do chủ sở hữu tự quản lý hoặc do người khác quản lý theo quy định. Tại thời điểm tài sản gây thiệt hại, bản thân chủ thể quản lý tài sản có thể bị coi là vi phạm quy định về quản lý tài sản.

Trong trường hợp có sự vi phạm quy định về quản lý tài sản, trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng được xác định dựa trên nguyên tắc chung tại Điều 586 Bộ luật dân sự năm 2015.

Theo đó, pháp luật quy định rằng nếu chủ sở hữu có năng lực quản lý tài sản và người trực tiếp quản lý tài sản thì chủ sở hữu phải trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại.

>> Xem thêm:  Quy trình xử lý khi xảy ra tai nạn Giao thông đường bộ ?

Trường hợp nếu chủ sở hữu không có năng lực quản lý tài sản, tức là tài sản do cha mẹ, hoặc người giám hộ quản lý theo quy định của pháp luật, thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định cụ thể như sau:

Thứ nhất, nếu cha mẹ là người quản lý tài sản của con theo quy định tại Điều 76 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì việc quản lý tài sản của con không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của cha mẹ, nên nếu cha mẹ không tuân thủ quy định về quản lý tài sản thì được xác định là có lỗi trong trường hợp tài sản gây thiệt hại. Do đó, cha mẹ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại;

Thứ hai, nếu tài sản do người giám hộ quản lý theo quy định tại khoản 3 Điều 55, khoản 2 Điều 56, điểm c khoản 1 Điều 57 và Điều 59 Bộ luật dân sự năm 2015, thì khi tài sản gây thiệt hại, người giám hộ bị suy đoán là có lỗi trong việc quản lý tài sản nên phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

5. Trường hợp không có sự vi phạm về quản lý tài sản thì xác định nhiệm trách nhiệm bồi phải dựa vào đâu?

Trong trường hợp không có sự vi phạm về quản lý tài sản (thiệt hại xảy ra là rủi ro mà tài sản mang lại) thì việc xác định nhiệm trách nhiệm bồi phải dựa trên nguyên tắc “quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân” và phải căn cứ trên lẽ công bằng, tức là người có quyền hưởng lợi ích do tài sản mang lại phải có nghĩa vụ gánh chịu rủi ro do chính tài sản đó gây ra.

Trong trường hợp này, tài sản đang do chủ sở hữu trực tiếp quản lý hay do cha mẹ, người giám hộ quản lý thì chủ sở hữu vẫn là người được hưởng các lợi ích từ tài sản. Do đó, chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Nếu tài sản đang do cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý thì cha mẹ hoặc người giám hộ có quyền lấy tài sản của chủ sở hữu để bồi thường.

Đây có thể coi là trường hợp chủ sở hữu có đủ năng lực về tài sản để bồi thường, nhưng không có đủ năng lực hành vi để thực hiện việc bồi thường (không tự thực hiện nghĩa vụ) nên việc bồi thường được thực hiện thông qua người đại diện của họ. Nếu tài sản của chủ sở hữu không đủ thì cha mẹ, người giám hộ không phải bồi thường, bởi vì họ không có lỗi trong việc quản lý tài sản, đồng thời họ không phải là người được hưởng lợi ích từ tài sản. Như vậy, đối với phần thiệt hại mà chủ sở hữu chưa có tài sản để bồi thường sẽ giải quyết như thế nào? Điều đó có thể thực hiện theo một tring những cách sau:

Thứ nhất, phần thiệt hại mà chủ sở hữu không có đủ tài sản để bồi thường sẽ là phần rủi ro mà người bị thiệt hại phải gánh chịu. Bởi vì lý do sau:

  • Thiệt hại ‘xảy ra trong trường họp này hoàn toàn là một rủi ro do tài sản gây ra, bởi không có lỗi trong việc quản lý tài sản của bất kì chủ thể nào. Toàn bộ tài sản của chủ sở hữu không đủ để bồi thường nên người bị thiệt hại gánh chịu một phần rủi ro cũng là lẽ thông thường liên quan đến việc chia sẻ rủi ro;
  • Về nguyên tắc bồi thường thiệt hại, người chịu trách nhiệm bồi thường có thể được giảm mức bồi thường nếu có lỗi vô ý và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

=> Như vậy, ngay cả khi chủ thể có lỗi vẫn có thể được giảm mức bồi thường, nên việc giảm một phần bồi thường cho chủ sở hữu trong trường hợp này cũng là hợp lý. Bởi vì bản thân họ không có lỗi và toàn bộ tài sản của họ đã được dùng để bồi thường thiệt hại mà vẫn không đủ. Tức là lúc này, chủ sở hữu đã chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại với toàn bộ khả năng về mặt tài sản mà mình có.

Thứ hai, phần thiệt hại chưa bồi thường này nên coi là một khoản nghĩa vụ chưa thực hiện xong của chủ sở hữu. Phần nghĩa vụ này sẽ tiếp tục được thực hiện cho đến khi có khả năng về mặt kinh tế. Điều này được lý giải bởi vì việc chủ sở hữu không có đủ tài sản để bồi thường thiệt hại không phải là một trong những căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường. Đồng thời, đây cũng không phải là một trong những căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ dân sự (trong đó có nghĩa vụ bồi thường). Hơn nữa, cách giải quyết này cũng thể hiện sự phù hợp đối với quy định trong Điều 586 Bộ luật dân sự năm 2015. Theo tinh thần của Điều luật này, việc xác định năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là xác định khả năng của người bồi thường thiệt hại. Còn việc bồi thường thiệt hại được thực hiện ở thời điểm nào không phải vấn đề năng lực chịu trách nhiệm bồi thường.

>> Xem thêm:  Quyền hưởng dụng là gì ? Phân tích nội dung quyền hưởng dụng theo luật ?

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Sở hữu là gì ? Phân tích sự hình thành sở hữu của xã hội loài người ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Quyền sở hữu bao gồm những quyền nào theo quy định pháp luật?

Trả lời:

Theo Điều 158 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền sở hữu như sau: "Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật."

 

Câu hỏi: Tài sản là gì theo pháp luật dân sự hiện hành?

Trả lời:

- Cơ sở pháp lý: điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015

"Điều 105. Tài sản

1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.

2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai."

Câu hỏi: Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm những tài sản nào?

Trả lời:

Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm:

+ Tài sản chưa hình thành;

+ Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch.