Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội

Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 của Quốc Hội

Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quốc hội

Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

2. Nội dung phân tích:

Về vấn đề bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm được quy định tại Điều 610 Bộ luật hình sự, và được hướng dẫn cụ thể tại điểm 2, mục II của Nghị quyết số 03/2006/NĐ-CP quy định:

"2. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm 

2.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết bao gồm: các chi phí được hướng dẫn tại các tiểu mục 1.1, 1.4 và thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được hướng dẫn tại tiểu mục 1.2 mục 1 Phần II này. 

2.2. Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ... 

2.3. Khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết. 

a) Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi tính mạng bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Những người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng, tương ứng đó. Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị xâm phạm tính mạng, thì những người này được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường. 

Thời điểm cấp dưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị xâm phạm. 

b) Đối tượng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng. 

- Vợ hoặc chồng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và được chồng hoặc vợ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng; 

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha, mẹ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng; 

- Cha, mẹ là người không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà con là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; 

- Vợ hoặc chồng sau khi ly hôn đang được bên kia (chồng hoặc vợ trước khi ly hôn) là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; 

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; 

- Em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động không có tài sản để cấp dưỡng cho con được anh, chị đã thành niên không sống chung với em là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; 

- Anh, chị không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà em đã thành niên không sống chung với anh, chị là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; 

- Cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không còn người khác cấp dưỡng mà ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; 

- Ông bà nội, ông bà ngoại không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng mà cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. 

2.4. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm. 

a) Người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trong trường hợp này là những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người bị thiệt hại. 

b) Trường hợp không có những người được hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.4 mục 2 này, thì người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại. 

c) Trong mọi trường hợp, khi tính mạng bị xâm phạm, những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất hoặc người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại (sau đây gọi chung là người thân thích) của người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Cần căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết này để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của những người thân thích của người bị thiệt hại. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào địa vị của người bị thiệt hại trong gia đình, mối quan hệ trong cuộc sống giữa người bị thiệt hại và những người thân thích của người bị thiệt hại... 

d) Mức bồi thường chung khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trước hết do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho tất cả những người thân thích của người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, số lượng người thân thích của họ, nhưng tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường."

Như vậy, để xác định mức bồi thường thiệt hại, bạn phải dựa vào những chi phí phát sinh trên thực tế dựa trên quy định pháp luật trên. Nếu trong biên bản của cơ quan điều tra xác định lỗi của người gây ra tai nạn, do vi phạm luật giao thông đường bộ mà để xảy ra hậu quả chết người, thì theo quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì:

>> Xem thêm:  Gây ra tai nạn giao thông trong năm 2020 thì phải bồi thường những gì ?

"Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng." 

Như vậy, trong trường hợp này, gia đình bạn có thể dựa vào những chi phí như trên để xác định mức bồi thường thiệt hại, bao gồm chi phí bù đắp về sức khỏe, về cấp dưỡng cho những người thân và mức bù đắp về tinh thần. Nếu bên người gây thiệt hại không tiến hành bồi thường thì gia đình bạn có quyền làm đơn khởi kiện yêu cầu bồi thường đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người này cư trú.

Thưa luật sư. Em có một vấn đề muốn nhờ luật sư tư vấn tư vấn giúp như sau : K mượn xe " tự lái " nhưng mượn được chiếc nào K cũng mang đi cầm đồ cả. chỉ trong 1 thời gian ngắn K đã cầm cố 3 chiếc xe lấy 450 triệu đồng, rồi bỏ trốn. ( tổng trị giá của 3 chiếc xe là 900 triệu ) . Nay vụ việc được phát hiện, mà gia đình K đã chuộc xe và trả lại đồng thời làm công tác bồi thường thiệt hại với chủ xe thì hành vi mượn xe để cầm cố lấy tiền tiêu của K có phạm tội không ??? Tại sao ??? em xin chân thành cảm ơn !

Hành vi mà K thực hiện có dấu hiệu của tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo đó, Điều 140 Bộ luật hình sự 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định:

>> Xem thêm:  Tư vấn về đòi đền bù mất xe ? Yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường tài sản bị mất

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ boons triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

>> Xem thêm:  Khách đến mua hàng bị mất xe, ai là người chịu trách nhiệm ? Thủ tục khởi kiện

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng."

Như vậy, trong trường hợp này, K đã thông qua hợp đồng thuê tài sản hợp pháp rồi mang xe đi cầm đồ, chiếm đoạt tài sản của những chủ sở hữu hợp pháp, và dùng thủ đoạn bỏ trốn để không phải thực hiện nghĩa vụ. Hơn nữa, tổng số tiền mà K chiếm đoạt ở đây là 450 triệu đồng, thuộc vào khoản 3 của điều luật, theo đó, khung hình phạt là từ bảy năm đến mười lăm năm. Việc gia đình khắc phục hậu quả, trả lại xe cho những người bị thiệt hại được xem xét là một trong những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

-----Original Message----- From: Trường Manager (Mr.) To: lienhe@luatminhkhue.vn Date: Mon, 4 Apr 2016 17:28:35 0700 Subject: Tư vấn xử lý va trạm giao thông đường bộ Kính gửi Công ty Luật Minh Khuê! Tôi cần tư vẫn về luật giao thông đường bộ rất mong được sự tư vấn từ công ty. Trường hợp đặt ra: Tôi đang lưu thông bằng ô tô trên đường trên cao (vành đai 3 hà Nội) vào lúc khoảng 16h00 do đường có hơi đông xe, xe tôi có dừng lại vì tắc đường thì từ phía sau có 1 chiếc xe đi cùng chiều có húc vào phần đuôi xe tôi ( có hòng hỏng mất chi phí do gara báo về là khoảng gần 20.000.000đ). sau khi thỏa thuận tới nay thì không có nhân nhân chứng nào chứng minh là xe của bạn ấy có va quyệt với xe của tôi. Sau khi xẩy ra va chạm thì tôi và người kia có thống nhất giải quyết tình cảm cá nhân là: thỏa thuận tôi sửa xe hết bao nhiêu bạn ấy trả phần chi phí sửa khi đưa về gara, và để làm tin tôi chỉ cầm chiếc bằng lái xe của bạn ấy và hẹn nhau tới gara để giải quyết, nhưng đến ngày hôm nay bạn ấy có ý không hợp tác và không trả chi phí bồi thường thiệt hại xe cho tôi, Vậy nên tôi nhờCông ty Luật Minh Khuê tư vấn cách giải quyết về việc này! Tôi xin chân thành cảm ơn quý công ty! VT Trân trọng

Trong trường hợp này, nếu bên gây thiệt hại không bồi thường cho gia đình bạn, thì bạn có quyền làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân nơi người này đang cư trú để được giải quyết. Tuy nhiên, đối với một vụ án dân sự, để được khởi kiện thì bạn phải có nghĩa vụ chứng minh sai phạm của người gây thiệt hại, và chứng minh những thiệt hại về tài sản của mình do hành vi của người này gây ra. Vì vậy, bạn gửi đơn khởi kiện đến Tòa án và phải gửi cùng các chứng cứ chứng minh như: hóa đơn sửa chữa xe, chứng cứ chứng minh hành vi sai phạm của xe (như những hình ảnh được ghi lại trong hộp đen của xe, của người làm chứng....)

Vào ngày 28/03/2016 vợ em trên đường đi làm về do tránh một người đi xe máy cùng chiều trở một người ngồi sau. Đang lưu thông thì xe trở người dừng lại cho người phía sau xuống xe và đi vao lề đường nhưng đi nửa đường người đó lại trở lại xe. Vợ em tránh người đó nên bị ngã xe máy đồng thời có một oto tải di chuyển cùng chiều đâm vào cánh tay của vợ em khiến vợ em bi lóc da toàn bộ cánh tay trái và vỡ lồi cầu hai bên cách tay trái. Được người dân và vợ em kể lại khi đó chiếc ôto di chuyển nhanh và bóp còi inh ỏi, khi xảy ra tai nạn thì cả 2 đều không có nồng độ cồn và chiếc xe máy trở người ngồi sau đã biến mất không biết là ai. Vợ em được tạm xác định thương tật là 18% hiện nay vợ em hiện vẫn đang nằm viện và đã trải qua 02 cuộc phẫu thuật tại đa khoa tỉnh và bệnh viện việt đức. Vợ em còn phải 02 lần phẫu thuật nữa là tháo đinh và phẫu thuật thẩm mỹ cho toàn bộ cánh tay trái. Xin hỏi luật minh khuê là trong trường hợp này người lái xe ôto có phải bồi thường thiệt hại gì cho vợ em hay không? có phải chịu trách nhiệm hình sự không? nếu bồi thường thì phải bồi bao nhiêu? Em xin chân thành cảm ơn

Trong trường hợp này, để xác định mức bồi thường thiệt hại thì cần phải xác định được mức độ lỗi của các bên. Theo đó, vợ bạn cũng có lỗi trong việc để xảy ra tai nạn này khi dừng xe không đúng quy định của Luật Giao thông đường bộ. Nếu người lái xe tải vi phạm luật giao thông như điều khiển xe quá tốc độ cho phép, đi sai phần đường, không quan sát...thì người này cũng phải có trách nhiệm bồi thường một phần chi phí cứu chữa cho vợ bạn. Nếu tỉ lệ thương tật của vợ bạn là dưới 31%, nhưng giá trị tài sản bị thiệt hại từ 50 triệu đồng trở lên, và việc vi phạm luật giao thông của người tài xế xe tải được xác định là nguyên nhân chính dẫn tới hậu quả này thì người này còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự. Theo đó, Điều 202 quy định:

>> Xem thêm:  Trách nhiệm bồi thường khi bên trông xe làm mất xe ? Khởi kiện đòi bồi thường

"Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm."

Theo đó, gây thiệt hại nghiêm trọng tại khoản 4.1 Điều 4 Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP như sau:

"4.1. Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại xảy ra, thì gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự: 

a. Làm chết một người; 

b. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên; 

c. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%; 

d. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng; 

đ. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng; 

e. Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng."

Tôi có gửi một xe máy SH trong khu để xe của cơ quan thì bị kẻ gian lấy mất.Khi gửi xe vì là người trong cơ quan tôi thấy mọi người đều không lấy thẻ xe và bảo vệ không yêu cầu lấy thẻ và đưa thẻ xe.Khi mất xe tôi có trình báo lãnh đạo cơ quan và công an đồng thời xin đền bù thiệt hại. Cơ quan có ý không muốn bồi thường và chưa có lời xin lỗi tôi bị mất xe.Xin luật sư tư vấn tôi có thể làm đơn khởi kiện ở đâu và cấp nào giải quyết, liệu tôi có được bồi thường bị mất xe hay không ? Xin cám ơn ! Sent from my iPad

Theo quy định tại Điều 562 Bộ luật dân sự thì:

"Điều 562. Nghĩa vụ của bên giữ tài sản

Bên giữ tài sản có các nghĩa vụ sau đây:

1. Bảo quản tài sản như đã thoả thuận, trả lại tài sản cho bên gửi theo đúng tình trạng như khi nhận giữ;

2. Chỉ được thay đổi cách bảo quản tài sản, nếu việc thay đổi là cần thiết nhằm bảo quản tốt hơn tài sản đó nhưng phải báo ngay cho bên gửi biết về việc thay đổi;

3. Báo kịp thời bằng văn bản cho bên gửi biết về nguy cơ hư hỏng, tiêu hủy tài sản do tính chất của tài sản đó và yêu cầu bên gửi cho biết cách giải quyết trong một thời hạn; nếu hết thời hạn đó mà bên gửi không trả lời thì bên giữ có quyền thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo quản và yêu cầu bên gửi thanh toán chi phí;

>> Xem thêm:  Làm mất xe máy, ô tô của bạn thì phải chịu trách nhiệm như thế nào ?

4. Phải bồi thường thiệt hại, nếu làm mất mát, hư hỏng tài sản gửi giữ, trừ trường hợp bất khả kháng."

Như vậy, cá nhân, tổ chức nhận giữ xe cho bạn có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại nếu họ làm mất mát tài sản của mình trong quá trình gửi giữ. Theo đó, bạn có quyền gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cơ quan này có trụ sở, tuy nhiên, bạn phải chứng minh được mình có hoạt động gửi giữ tài sản trong trường hợp này, và chứng minh được thiệt hại về tài sản của mình.

Trân trọng ./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật Dân sự.

>> Xem thêm:  Mẫu biên bản thỏa thuận, văn bản thỏa thuận, hợp đồng thỏa thuận mới 2020