Mãi đến năm 2015 họ sang đòi đất và kiện ra tòa đòi tôi trả lại 35m2 đất đó. Bây giờ tôi phải làm sao?
Tôi xin hỏi thêm: Ba tôi đã mất vào năm 2005, thì tôi sẽ biện minh thế nào để nói rằng ba tôi đã kí vào biên bản do nhầm lẫn?
Mong công ty luật hồi đáp giúp tôi trong thời gian sớm nhất. Tôi xin chân thành cám ơn!
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụctư vấn pháp luật đất đaicủa công ty Luật Minh Khuê.
Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến,gọi: 1900.6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau:
1. Cơ sở pháp lý:
2. Nội dung tư vấn:
Theo quy định tại Điều 247 Bộ luật Dân sự 2005 về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu như sau:
"1. Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Người chiếm hữu tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước không có căn cứ pháp luật thì dù ngay tình, liên tục, công khai, dù thời gian chiếm hữu là bao lâu cũng không thể trở thành chủ sở hữu tài sản đó."
Theo quy định trên, nếu gia đình bạn sở hữu mảnh đất một cách công khai, liên tục và ngay tình trên 30 năm thì gia đình bạn sẽ trở thành chủ sở hữu mảnh đất đó kể từ thời điểm chiếm hữu.
Tại Điều 131 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn:
"Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu.
Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này."
Theo đó, nhầm lẫn là sự không trùng hợp ý chí được thể hiện với mong muốn thật sự của người thể hiện ý chí. Bản thân người thể hiện ý chí khi xác lập giao dịch không biết được điều đó, sự nhầm lẫn có thể chỉ xảy ra đối với một bên. Lúc này bên nhầm lẫn có thể yêu cầu Tòa án quyết định tuyên bố giao dịch đó là vô hiệu.
Theo như bạn trình bày, nhà bên cạnh gia đình bạn lại được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bao gồm cả diện tích đất nhà bạn là 35m2 và có chữ ký của ba bạn trong biên bản xác định ranh giới thửa đất nhà họ. Trong trường hợp này, có thể ba bạn đã có sự nhầm lần trong việc ký vào xác nhận mà không hề để ý đến nội dung biên bản, do vậy biên bản này có thể bị tuyên vô hiệu theo Điều 131 do bị nhầm lẫn về nội dung, và việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho diện tích đất trên là không hợp pháp.
Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của gia đình bạn, gia đình bạn cần làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi gia đình cư trú và xuất trình các tài liệu, chứng cứ hợp pháp có liên quan để chứng minh gia đình bạn là chủ sử dụng hợp pháp của mảnh đất trên chứ không phải người đang đứng tên trong sổ đỏ, ví dụ như giấy biên nhận trả tiền mua đất,...và việc xác minh từ những người sống xung quanh, hàng xóm, láng giềng hay những người biết rõ về nguồn gốc mảnh đất trên là của nhà bạn là vô cùng quan trọng để yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Nếu có căn cứ chứng minh mảnh đất trên đúng là của gia đình bạn thì Tòa án sẽ xem xét, giải quyết trả lại quyền lợi hợp pháp cho gia đình bạn.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT DÂN SỰ