- 1. Hoàn cảnh lịch sử - chính trị trong giai đoạn 30 năm được nghiên cứu (1955-1985)
- 2. Sự phân chia thời kỳ nghiên cứu
- 3. Hệ thống pháp luật hình sự nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong 20 năm đầu (1955 – 1975)
- 4. Đặc điểm bãi bỏ hoàn toàn các đạo luật hình sự cũ trước cách mạng
- 5. Đặc điểm tiếp tục ban hành hai nhóm các văn bản pháp luật hình sự mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
1. Hoàn cảnh lịch sử - chính trị trong giai đoạn 30 năm được nghiên cứu (1955-1985)
Về hoàn cảnh lịch sử - chính trị ở Việt Nam trong giai đoạn 30 năm trước khi pháp điển hóa phấp luật hình sự lần thứ nhất (1955-1985).
Vào cuối giai đoạn này dưới sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, quân và dân ta đã giành được thắng lợi hoàn toàn trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử (7/5/1954) mà kết quả của nó dẫn đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ “Về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Đông Dương” (21/7/1954) và kết thúc 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954).
Lẽ ra theo Hiệp định Giơnevơ thì sau đó hai năm (7/1956) sẽ tiến hành tổng tuyển cử trên toàn lãnh thổ Việt Nam và thống nhất đất nưốc. Nhưng với dã tâm xâm lược miền Nam, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai đã không chịu thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ, vì vậy, Nhân dân ta lại một lần nữa buộc phải đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ trong suốt 21 năm (1954-1975) đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược.
Hệ thống chính trị nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giai đoạn 1954 - 1975 đã góp phần hoàn thành tốt hai nhiệm vụ lịch sử là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
2. Sự phân chia thời kỳ nghiên cứu
Bối cảnh lịch sử như đã phân tích ở phần 1, đó là: Về hoàn cảnh lịch sử - chính trị ở Việt Nam trong giai đoạn 30 năm trước khi pháp điển hóa phấp luật hình sự lần thứ nhất (1955-1985). Vào cuối giai đoạn này dưối sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, quân và dân ta đã giành được thắng lợi hoàn toàn trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử (7/5/1954) mà kết quả của nó dẫn đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ “Về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Đông Dương” (21/7/1954) và kết thúc 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954).
Lẽ ra theo Hiệp định Giơnevơ thì sau đó hai năm (7/1956) sẽ tiến hành tổng tuyển cử trên toàn lãnh thổ Việt Nam và thống nhất đất nưốc. Nhưng với dã tâm xâm lược miền Nam, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai đã không chịu thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ, vì vậy, Nhân dân ta lại một lần nữa buộc phải đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ trong suốt 21 năm (1954-1975) đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược. Hệ thống chính trị nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giai đoạn 1954 - 1975 đã góp phần hoàn thành tốt hai nhiệm vụ lịch sử là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Với bối cảnh lịch sử - chính trị đã được phân tích ở phía trên nên sẽ là hợp lý và có căn cứ khi việc phân tích khoa học sự phát triển của hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn 30 năm đang nghiên cứu (1955-1985) trong phần nghiên cứu nhỏ này cần được xem xét theo sự phân chia tương ứng thành 2 giai đoạn ngắn (20 năm và 10 năm) tại hai khoản 3 và 4 như sau: (1) Hệ thống pháp luật hình sự nước ta trong 20 năm từ sau khi cấm hoàn toàn việc áp dụng các đạo luật hình sự cũ đến khi thống nhất đất nước (1955-1975) và; (2) Hệ thống pháp luật hình sự nưóc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong 10 năm tiếp theo từ sau khi thống nhất đất nưốc đến khi pháp điển hóa lần thứ nhất (1975-1985).
Dưới đây chúng ta sẽ nghiên cứu cụ thể hệ thống pháp luật hình sự nước ta trong 20 năm từ sau khi cấm hoàn toàn việc áp dụng các đạo luật hình sự cũ đến khi thống nhất đất nước (1955-1975).
3. Hệ thống pháp luật hình sự nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong 20 năm đầu (1955 – 1975)
Hệ thống pháp luật hình sự nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong 20 năm đầu từ sau khi cấm hoàn toàn việc áp dụng các đạo luật hình sự cũ đến khi thống nhất đất nước (1955-1975).
Sau khi Hiệp định Giơnevơ có hiệu lực, quân đội viễn chinh Pháp đã hoàn toàn rút khỏi miền Bắc, một nửa nước ta đã hoàn toàn thoát khỏi ách chiếm đóng của bọn thực dân xâm lược (ngày 19/5/1955) và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới trong hòa bình.
Vì vậy, việc phân tích nội dung các văn bản pháp luật hình sự của nước ta trong giai đoạn 20 năm từ sau khi cấm hoàn toàn việc áp dụng các đạo luật hình sự cũ đến trước khi thống nhất đất nước cho thấy, sự tiếp tục phát triển của hệ thống pháp luật hình sự nước nhà có ba đặc điểm cơ bản (và đồng thời cũng là ba hướng chủ yếu được triển khai của Nhà nước đối với việc tiếp tục phát triển pháp luật hình sự quốc gia) là:
- Bãi bỏ hoàn toàn các đạo luật hình sự cũ trước cách mạng đã được tạm thời áp dụng trong giai đoạn trước đây (1945-1955);
- Tiếp tục ban hành các văn bản pháp luật hình sự của nưởc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gồm hai nhóm - các đạo luật hình sự và các đạo luật có tính chất hình sự mới và;
- Ban hành các văn bản giải thích có tính chất chỉ đạo của Tòa án nhân dân tôì cao trong việc hưống dẫn áp dụng thống nhất pháp luật hình sự (hoặc đôi khi là các văn bản liên tịch của Tòa án nhân dân tối cao cùng với các cơ quan bảo vệ pháp luật ở Trung ương như Viện kiểm sát nhân dân tôì cao, Bộ Công an và Bộ Tư pháp).
Tuy nhiên, do tính chất rộng lớn và phức tạp, cũng như tầm quan trọng đặc biệt của hướng chủ yếu thứ ba này đối với việc tiếp tục hình thành và phát triển pháp luật hình sự Việt Nam nên việc nghiên cứu nội dung của hướng thứ ba này sẽ được đề cập riêng biệt.
Chính vì vậy, dưới đây sẽ chỉ nghiên cứu hai đặc điểm (và đồng thời là hai huống được triển khai để tiếp tục phát triển) của pháp luật hình sự nước ta trong giai đoạn 20 năm trước khi thông nhất đất nước (1955-1975).
4. Đặc điểm bãi bỏ hoàn toàn các đạo luật hình sự cũ trước cách mạng
Đặc điểm (và là hướng) thứ nhất - bãi bỏ hoàn toàn các đạo luật hình sự cũ trước cách mạng đã được tạm thời áp dụng trong giai đoạn trước đây. Nhận thức sâu sắc rằng, trong bối cảnh lịch sử - chính trị mới (như đã phân tích ở trên) nên việc tiếp tục áp dụng, mặc dù chỉ là tạm thời các đạo luật hình sự cũ trong giai đoạn 10 năm trước đây (1945-1955) không còn phù hợp với các quan hệ xã hội mới sau khi miền Bắc Việt Nam đã hoàn toàn được giải phóng khỏi ách chiếm đóng của thực dân Pháp.
Chính vì vậy, từ giữa năm 1955 trở đi, các quy phạm pháp luật hình sự trước cách mạng Tháng Tám đã chính thức bị bãi bỏ hoàn toàn (tức là việc áp dụng các quy phạm đó đã bị đình chỉ) trên toàn bộ lãnh thổ đất nước Việt Nam (theo Thông tư số 19/VHH-HS ngày 30/6/1955). Tuy nhiên, đến giai đoạn này, theo Chỉ thị số 772-TATC ngày 10/7/1959 của Tòa án nhân dân tối cao về vấn đề đình chỉ áp dụng pháp luật cũ của đế quốc và phong kiến1 thì cơ quan xét xử cao nhất của nước ta đã nhắc lại để lưu ý các Tòa án trên toàn lãnh thổ Việt Nam một số vấn đề cần lưu ý như sau:
"... Những điều luật của đế quốc và phong kiến dù là hiểu và áp dụng vối tinh thần mới chẳng những không còn thích hợp được nữa, mà trái lại không khỏi gây ra nhiều tai hại trong công tác.
Trong tình hình xã hội Việt Nam hiện nay,... hoàn toàn không thể sử dụng điều luật của đế quốc và phong kiến được nữa, dù là với tinh thần mới.
Để xét xử các vụ án hình sự và dân sự, cần áp dụng luật pháp của nưốc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành trưốc đến giờ (luật, sắc lệnh, nghị định, thông tư...), đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ, án lệ của các tòa, của Tòa án Tối cao...”.
5. Đặc điểm tiếp tục ban hành hai nhóm các văn bản pháp luật hình sự mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Đặc điểm này là tiếp tục ban hành hai nhóm các văn bản pháp luật hình sự mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (các đạo luật luật hình sự và các đạo luật có tính chất hình sự) để đấu tranh chông tội phạm và bảo vệ bằng pháp luật hình sự các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội, mà cụ thể:
a. Nhóm thứ nhất bao gồm các văn bản pháp luật hình sự trực tiếp đề cập việc đấu tranh chống tội phạm như:
- sắc lệnh số 267/SL ngày 15/6/1956 về trừng trị những âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã, của nhân dân và cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch Nhà nước;
- Sắc luật số 001/SL ngày 19/4/1957 Cấm chỉ mọi hành động đầu cơ về kinh tế;
- Thông tư số 3887-VHH/HS ngày 02/11/1957 của Bộ Tư pháp về trừng trị những hành động chống thuế nông nghiệp;
- Pháp lệnh ngày 30/10/1967 của ủy ban thường vụ Quốc hội về trừng trị các tội phản Cách mạng;
- Pháp lệnh số 149-LCT ngày 21/10/1970 của Úy ban thường vụ Quốc hội về trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, và Pháp lệnh số 150-LCT ngày 21/10/1970 của ủy ban thường vụ Quốc hội về trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân.
b. Nhóm thứ hai bao gồm các văn bản pháp luật có tính chất hình sự (tức là các văn bản pháp luật tuy không trực tiếp điều chỉnh về tội phạm và hình phạt nhưng chế tài xử lý vi phạm các văn bản đó là có tính chất hình sự) nhằm bảo vệ bằng pháp luật hình sự các lĩnh vực khác nhau của đời sôhg xã hội, chẳng hạn như:
- Sắc lệnh số 282/SL ngày 14/12/1956 về chế độ báo chí;
- Ba đạo luật được ban hành cùng ngày 20/5/1957 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Luật quy định quyền lập hội, Luật quy định về quyền tự do hội họp và, Luật đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân;
- Sắc luật số 003/SL ngày 18/6/1957 Chủ tịch nước quy định chế độ xuất bản;
- Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1959 (các điều 56-58);
- Pháp lệnh về việc bầu củ Hội đồng nhân dân các cấp năm 1961 (các điều 61-63);
- Pháp lệnh quy định cấm nấu rượu trái phép năm 1966; và g) Pháp lệnh quy định bảo vệ rừng năm 1972;...
Trân trọng!