1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật lao động năm 2012

– Nghị định 05/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều Luật lao động năm 2012

2. Tư vấn pháp luật về đình công bất hợp pháp:

Căn cứ điều 215 Bộ Luât lao động có quy định về các trường hợp đình công bất hợp pháp như sau:

– Không phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể về lợi ích

Theo quy định tại khoản 2 điều 209 luật này, đình công hợp pháp phải phát sinh từ tranh chấp lao động về lợi ích của tập thể người lao động với người sử dụng lao động. Trường hợp đình công không phải vì tranh chấp lao động về lợi ích của tập thể người lao động là vi phạm quy định của pháp luật.

– Tổ chức cho những người lao động không cùng làm việc cho một người sử dụng lao động đình công

Đình công nẩy sinh từ bất đồng về lợi ích của tập thể lao động với người lao động. Đây là hoạt động của tập thể lao động, do đó tập thể lao động đó phải cùng làm việc cho một người sử dụng lao động, tiến hành đình công vì lợi ích chung của tập thể.

– Khi vụ việc tranh chấp lao động tập thể chưa được hoặc đang được cơ quan, tổ chức, cá nhân giải quyết theo quy định của BLLĐ 2012

Đình công là phương thức cuối cùng mà tập thể lao động sử dụng nhằm yêu cầu quyền lợi của mình, và trước khi xảy ra đình công, hai bên chủ thể phải tiến hành hòa giải, nếu hòa giải không thành theo quy định tại khoản 3 điều 206 BLLĐ 2012 thì tập thể lao động mới có thể thực hiện đình công.

– Tiến hành tại doanh nghiệp không được đình công thuộc danh mục do Chính phủ quy định

Do những đặc thù riêng về kinh tế, chính trị, pháp luật có quy định không được đình công tại doanh nghiệp thuộc danh mục do Chính phủ quy định

– Khi đã có quyết định hoãn hoặc ngừng đình công

Trường hợp khi đã có quyết định hoãn hoặc ngừng đình công mà tập thể lao động vẫn tiến hành đình công thì trường hợp đình công này đã vi phạm kỷ luật lao động và được xử lý theo quy định.

3. Xử lý hành vi đình công trái pháp luật:

Căn cứ Điều 233 bộ luật lao động có quy định về xử lý vi phạm khi đình công bất hợp pháp như sau:

“1. Khi đã có quyết định của Toà án về cuộc đình công là bất hợp pháp mà người lao động không ngừng đình công, không trở lại làm việc, thì tuỳ theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật lao động theo quy định của pháp luật về lao động.

Trong trường hợp cuộc đình công là bất hợp pháp mà gây thiệt hại cho người sử dụng lao động thì tổ chức công đoàn lãnh đạo đình công phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

2. Người lợi dụng đình công gây mất trật tự công cộng, làm tổn hại máy, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động; người có hành vi cản trở thực hiện quyền đình công, kích động, lôi kéo, ép buộc người lao động đình công; người có hành vi trù dập, trả thù người tham gia đình công, người lãnh đạo cuộc đình công thì tuỳ theo mức độ vi phạm, có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.”

Ngoài ra, Điều 36 Nghị định 05/2015/NĐ-CP có quy định cụ thể về bồi thường thiệt hại trong trường hợp đình công bất hợp pháp như sau:

“1. Người sử dụng lao động xác định giá trị thiệt hại do cuộc đình công bất hợp pháp gây ra, bao gồm:

a) Thiệt hại về máy móc, thiết bị, nguyên, nhiên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm hư hỏng sau khi trừ đi giá trị thu hồi do thanh lý, tái chế (nếu có);

b) Chi phí khắc phục hậu quả do đình công bất hợp pháp gây ra gồm: Vận hành máy móc thiết bị theo yêu cầu công nghệ; sửa chữa, thay thế máy móc, thiết bị bị hư hỏng; tái chế nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm bị hư hỏng; bảo quản nguyên, nhiên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm trong thời gian diễn ra đình công; vệ sinh môi trường; bồi thường khách hàng hoặc phạt vi phạm hợp đồng do đình công xảy ra.

2.Người sử dụng lao động có văn bản yêu cầu tổ chức công đoàn lãnh đạo cuộc đình công bất hợp pháp bồi thường thiệt hại. Văn bản yêu cầu có một số nội dung chủ yếu sau:

a) Giá trị thiệt hại do đình công bất hợp pháp gây ra quy định tại Khoản 1 Điều này;

b) Giá trị yêu cầu bồi thường;

c) Thời hạn bồi thường.

3.Căn cứ vào nội dung văn bản yêu cầu bồi thường thiệt hại của người sử dụng lao động, đại diện tổ chức công đoàn trực tiếp lãnh đạo đình công có trách nhiệm thực hiện bồi thường thiệt hại theo quy định.

Trường hợp không đồng ý với giá trị thiệt hại, giá trị bồi thường, thời hạn bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của người sử dụng lao động thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ khi nhận được văn bản yêu cầu, đại diện tổ chức công đoàn trực tiếp lãnh đạo đình công có văn bản đề nghị người sử dụng lao động tổ chức thương lượng các nội dung chưa đồng ý.

Sau khi thương lượng, nếu thống nhất, hai bên có trách nhiệm thực hiện các nội dung đã được thỏa thuận. Nếu không thống nhất thì một trong hai bên có quyền yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.”.

Như vậy, trường hợp của bạn cùng các công nhân khác muốn tiến hành đình công có thể tham khảo quy định pháp luật nêu trên để cuộc đình công diễn ra hợp pháp. Đồng thời, có thể dự liệu hậu quả xảy ra trước khi tiến hành đình công tránh những tổn thất không đáng có.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật - Luật Minh Khuê biên tập