Căn cứ theo Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ngày 01 tháng 03 năm 2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Quy định cụ thể như sau:
Theo khoản 1, khoản 2 Điều 33 Nghị định 28/2020/NĐ-CP:
1. Phạt cảnh cáo đối với người lao động có hành vi tham gia đình công sau khi có quyết định hoãn hoặc ngừng đình công của Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người lao động có một trong các hành vi sau đây:
a) Cản trở việc thực hiện quyền đình công hoặc kích động, lôi kéo, ép buộc người lao động đình công;
b) Cản trở người lao động không tham gia đình công đi làm việc.
Theo khoản 1 Điều 5 Nghị định này: Mức phạt tiền quy định đối với các hành vi vi phạm nêu trên là mức phạt đối với cá nhân, mức phạt tiền đối với tổ chức bàng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Luật Minh Khuê phân tích chi tiết quy định pháp lý trên như sau:
1. Thế nào là đình công?
Căn cứ theo quy định tại Điều 198 của Bộ luật lao động năm 2019 thì đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của người lao động nhằm đạt yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động và do tổ chức đại diện người lao động có quyền thương lượng tập thể là một bên tranh chấp lao động tập thể tổ chức và lãnh đạo. Đình công là sự phản ứng của người lao động đối với người sử dụng lao động thông qua hành vi ngừng việc tạm thời, biểu hiện sự ngừng việc của người lao động tham gia đình công chỉ có tính chất tạm thời (tạm ngừng quan hệ lao động); sự ngừng việc này chỉ trong một khoản thời gian nhất định chứ người lao động không có ý định ngừng việc lâu dài hay bỏ việc. Đình công còn là hoạt động mang tính tập thể và có tổ chức, mang tính tự nguyện của những người lao động. Đình công là quyền của mỗi cá nhân người lao động khi tham gia vào quan hệ lao động; nhưng thực hiện đình công luôn là hành vi mang tính tập thể và được thể hiện qua sự phối hợp về mặt ý chí và tổ chức của những người lao động với nhau. Tính tổ chức khi những người lao động tham gia vào đình công là có yếu tố lãnh đạo cuộc đình công; đình công theo kế hoạch được chuẩn bị từ trước và hành động vì mục đích chung của tập thể.
Mục đích của người lao động khi tiến hành đình công nhằm đạt được yêu sách gắn với lợi ích của những người tham gia đình công. Yêu sách có thể sẽ được thể hiện bằng văn bản hoặc bằng lời nói; khẩu hiệu, thậm chí là yêu sách ngầm,... Đa số những yêu sách trong hoạt động đình công là những yêu sách của người lao động về quyền và lợi ích đang tranh chấp, mà những người đình công muốn có được sau khi tranh chấp,... Để phân loại đình công theo đúng quy định của pháp luật hiện hành thì ta có thể phân loại cụ thể như sau:
- Căn cứ vào tính chất của cuộc đình công thì đình công được chia thành hai loại là: đình công kinh tế và đình công chính trị. Đình công kinh tế là những cuộc đình công nhằm gây sức ép với người sử dụng lao động hoặc chủ thể khác để đạt được những mức độ lớn hơn về quyền và lợi ích trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, nghề nghiệp,... Còn đình công chính trị là những cuộc đình công nhằm gây sức ép để phản đối chính quyền nhà nước hoặc Đảng phải nhằm đạt được các mục đích chính trị mà người đình công quan tâm;
- Căn cứ vào mục đích đình công thì chia thành: đình công yêu sách và đình công hưởng ứng. Đình công yêu sách là những cuộc đình công nhằm đạt được các yêu sách về quyền và lợi ích của những người lao động tham gia đình công. Đình công hưởng ứng là những cuộc đình công nhằm ủng hộ và tỏ thái độ đồng tình để hỗ trợ cho các cuộc đình công khác;
- Căn cứ vào phạm vi đình công thì có: đình công doanh nghiệp, đình công bộ phận và tổng đình công. Đình công doanh nghiệp là những cuộc đình công do tập thể lao động trong phạm vi doanh nghiệp tiến hành nhằm phản kháng lại quyết định hay hoạt động nào đó của doanh nghiệp; Đình công bộ phận là những cuộc đình công do tập thể lao động trong phạm vu nhiều ngành, một khu vực tiến hành; Tổng đình công là những cuộc đình công của những người lao động trong phạm vi nhiều ngành, hoặc nhiều khu vực trong cả nước tiến hành;
- Nếu căn cứ vào mức độ tuân thủ quy định của pháp luật về đình công thì chia thành: Đình công hợp pháp và đình công bất hợp pháp. Đình công hợp pháp là những cuộc đình công đầy đủ các quy định của pháp luật về đình công như điều kiện, phạm vi đình công, doanh nghiệp được phép đình công, hoãn, ngừng đình công,... Đình công bất hợp pháp là những cuộc đình công không đáp ứng được một trong số các điều kiện theo quy định của pháp luật về đình công.
2. Trường hợp người lao động có quyền đình công
Theo quy định tại Điều 199 của Bộ luật lao động năm 2019 có quy định: Tổ chức đại diện người lao động là bên tranh chấp lao động tập thể về lợi ích có quyền tiến hành thủ tục theo quy định của pháp luật để đình công trong các trường hợp cụ thể như sau:
- Hòa giải không thành hoặc hết thời hạn hòa giải theo quy định mà hòa giải viên không tiến hành hòa giải. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hòa giải viên lao động nhận được yêu cầu từ bên yêu cầu giải quyết tranh chấp hoặc từ cơ quan theo quy định thì hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải. Tại phiên họp hòa giải phải có mặt cả hai bên tranh chấp và các bên tranh chấp có thể ủy quyền cho người khác tham gia phiên họp hòa giải.
- Ban trọng tài lao động không được thành lập hoặc thành lập nhưng không ra quyết định giải quyết tranh chấp hoặc người sử dụng lao động là bên tranh chấp không thực hiện quyết định giải quyết tranh chấp của Ban trọng tài lao động.
Trình tự để tiến hành đình công:
- Lấy ý kiến đình công theo quy định của pháp luật lao động. Trước khi tiến hành đình công thì tổ chức đại diện người lao động có quyền tổ chức và lãnh đạo đình công theo quy định có trách nhiệm lấy ý kiến của toàn thể người lao động hoặc thành viên ban lãnh đạo của các tổ chức đại diện người lao động tham gia thương lượng. Nội dung lấy ý kiến sẽ bao gồm:
+ Đồng ý hay không đồng ý đình công;
+ Phương án của tổ chức đại diện người lao động về nội dung quy định: thời điểm bắt đầu đình công, địa điểm đình công; phạm vi tiến hành đình công; Yêu cầu của người lao động.
+ Việc lấy ý kiến được thực hiện trực tiếp bằng hình thức lấy phiếu hoặc chữ ký hoặc hình thức khác;
+ Thời gian, địa điểm và cách thức tiến hành lấy ý kiến về đình công do tổ chức đại diện người lao động quyết định và phải thông báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 01 ngày. việc lấy ý kiến không được ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường của người sử dụng lao động. Người sử dụng lao động không được gây khó khăn, cản trở hoặc can thiệp vào quá trình tổ chức đại diện người lao động tiến hành lấy ý kiến về đình công.
- Ra quyết định đình công và thông báo đình công theo quy định của pháp luật. Khi có trên 50% số người được lấy ý kiến đồng ý với nội dung lấy ý kiến đình công theo quy định về nội dung lấy ý kiến thì tổ chức đại diện người lao động ra quyết định đình công bằng văn bản. Quyết định đình công phải có đầy đủ các nội dung sau đây:
+ Kết quả lấy ý kiến đình công;
+ Thời điểm bắt đầu đình công, địa điểm đình công;
+ Phạm vi tiến hành đình công;
+ yêu cầu của người lao động;
+ Họ tên, địa chỉ liên hệ của người đại diện cho tổ chức đại diện người lao động tổ chức và lãnh đạo đình công.
Ít nhất là 05 ngày làm việc trước ngày bắt đầu đình công thì tổ chức đại diện người lao động tổ chức và lãnh đạo đình công phải gửi văn bản về việc quyết định đình công cho người sử dụng lao động; Ủy ban nhân dân cấp huyện và cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Đến thời điểm bắt đầu đình công, nếu người sử dụng lao động vẫn không chấp nhận giải quyết yêu cầu của người lao động thì tổ chức đại diện người lao động tổ chức và lãnh đạo đình công.
- Tiến hành đình công.
Căn cứ theo quy định tại Điều 204 của Bộ luật Lao động năm 2019 quy định về các trường hợp được xem là đình công trái pháp luật:
- Không thuộc vào các trường hợp được phép đình công theo quy định của pháp luật lao động;
- Đình công không do tổ chức đại diện người lao động có quyền tổ chức và lãnh đạo đình công thì được xem là đình công trái với quy định của pháp luật;
- Vi phạm các quy định về trình tự, thủ tục tiến hành đình công theo quy định;
- Khi tranh chấp lao động tập thể đang được cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết theo quy định của Bộ luật lao động năm 2019;
- Tiến hành đình công trong các trường hợp không được phép đình công: Không được đình công ở nơi sử dụng lao động mà việc đình công có thể đe dọa đến quốc phòng, an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe của con người. Chính phủ cũng có quy định danh mục nơi người sử dụng lao động không được đình công và việc giải quyết tranh chấp lao động tại nơi sử dụng lao động không được đình công theo quy định;
- Khi đã có quyết định tạm hoãn hoặc ngừng đình công của cơ quan có thẩm quyền; Khi xét thấy cuộc đình công có nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế quốc dân, lợi ích công cộng, đe dọa đến quốc phòng, an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe của con người thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định hoãn hoặc ngừng đình công. Chính phủ cũng có quy định chi tiết về việc hoãn, ngừng đình công và giải quyết quyền lợi của người lao động.
3. Quyền của người sử dụng lao động trong các cuộc đình công
Trong quá trình đình công thì tại Điều 203 của Bộ luật lao động năm 2019 có quy định về quyền của các bên trước và trong quá trình đình công. Tiếp tục tiến hành thỏa thuận để giải quyết nội dung tranh chấp lao động tập thể và cùng đề nghị hòa giải viên lao động, Hội đồng trọng tài lao động tiến hành hòa giải, giải quyết tranh chấp lao động. Tổ chức đại diện người lao động có quyền tổ chức và lãnh đạo đình công theo quy định sẽ có các quyền sau đây: Rút quyết định đình công nếu chưa đình công hoặc chấm dứt đình công nếu đang đình công; Yêu cầu Tòa án tuyên bố cuộc đình công là hợp pháp. Người sử dụng lao động sẽ có các quyền cụ thể sau đây:
- Người sử dụng lao động chấp nhận toàn bộ hoặc một phần yêu cầu và thông báo bằng văn bản cho tổ chức đại diện người lao động đang tổ chức và lãnh đạo đình công;
- Đóng cửa tạm thời nơi làm việc trong thời gian đình công do không đủ điều kiện để duy trì hoạt động bình thường hoặc để bảo vệ tài sản;
- Yêu cầu Tòa án tuyên bố cuộc đình công là bất hợp pháp.
Do vậy, trong quá trình người lao động tiến hành đình công thì người sử dụng lao động thì có quyền chấp nhận toàn bộ hoặc một phần yêu cầu và thông báo bằng văn bản cho tổ chức đại diện người lao động đang tổ chức và lãnh đạo đình công; Người sử dụng lao động cũng có quyền đóng cửa tạm thời nơi làm việc trong thời gian đình công do không đủ điều kiện để duy trì hoạt động bình thường hoặc để bảo vệ tài sản; ngoài ra, người sử dụng lao động cũng có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố cuộc đình công là bất hợp pháp.
Trường hợp người lao động nếu tiến hành đình công bất hợp pháp thì theo quy định của khoản 2 Điều 217 của Bộ luật lao động năm 2019 quy định. Khi đã có quyền định của Tòa án về cuộc đình công là bất hợp pháp thì người lao động đang tham gia đình công thì phải ngừng ngay đình công và trở lại làm việc. Nếu người lao động không ngừng đình công, không trở lại làm việc thì sẽ tùy theo mức độ vi phạm mà áp dụng các hình thức xử phạt.
- Xử lý kỷ luật lao động theo một trong các hình thức theo đúng quy định của pháp luật:
+ Khiển trách
+ Kéo dài thời hạn nâng lương không quá 06 tháng;
+ Cách chức;
+ Sa thải.
- Trong trường hợp đình công là bất hợp pháp mà gây thiệt hại cho người sử dụng lao động thì tổ chức đại diện người lao động tổ chức và lãnh đạo đình công phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Đồng thời tại khoản 3 Điều 217 của Bộ luật lao động năm 2019 quy định về các trường hợp đình công tùy theo mức độ vi phạm có thể sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, bao gồm: Người lợi dụng đình công gây mất trật tự, an toàn công cộng, làm tổn hại máy, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động; Người có hành vi cản trở thực hiện quyền đình công, kích động, lôi kéo, ép buộc người lao động đình công; Người có hành vi trù dập, trả thù người tham gia đình công, người lãnh đạo cuộc đình công.
Pháp luật cũng có quy định về trường hợp người lao động không tham gia đình công nhưng phải ngừng việc vì lý do đình công thì được trả lương ngừng việc theo quy định và các quyền lợi khác theo đúng quy định của pháp luật về lao động. Người lao động tham gia đình công không được trả lương và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Trường hợp phải ngừng việc thì người lao động được trả lương quy định tại Điều 99 của Bộ luật lao động năm 2019:
- Nếu do lỗi của người sử dụng lao động thì người lao động được trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động;
- Nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương; những người lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc thì được trả lương theo mức do hai bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu;
- Nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động hoặc do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế thì hai bên thỏa thuận về tiền lương ngừng việc cụ thể như sau: Trường hợp ngừng việc từ 14 ngày làm việc trở xuống thì tiền lương ngừng việc được thỏa thuận không thấp hơn mức lương tối thiểu; Trường hợp phải ngừng việc trên 14 ngày làm việc thì tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận nhưng phải đảm bảo tiền lương ngừng việc trong 14 ngày đầu tiên không thấp hơn mức lương tối thiểu.
4. Mức phạt khi cản trở, kích động người lao động đình công, tham gia đình công?
Quy định về các hành vi nghiêm cấm trước, trong và sau khi đình công được quy định cụ thể và chi tiết tại Điều 208 của Bộ luật lao động năm 2019. Các hành vi bị nghiêm cấm trước, trong và sau khi đình công:
- Một là, cản trở thực hiện quyền đình công hoặc kích động, lôi kéo, ép buộc người lao động đình công; cản trở người lao động không tham gia đình công đi làm việc;
- Hai là, dùng bạo lực; hủy hoại máy, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động;
- Ba là xâm phạm trật tự, an toàn công cộng;
- Bốn là chấm dứt hợp đồng lao động hoặc xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động, người lãnh đạo đình công hoặc điều động người lao động, người lãnh đạo đình công sang làm công việc khác, đi làm việc ở nơi khác vì lý do chuẩn bị đình công hoặc tham gia đình công;
- Năm là trù dập, trả thù người lao động tham gia đình công, người lãnh đạo đình công;
- Sáu là lợi dụng đình công để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Do đó, theo quy định của pháp luật thì người lao động không được phép cản trở việc thực hiện quyền đình công, lôi kéo, éo buộc người lao động đình công, cản trở người lao động không tham gia đình công đi làm việc; Không được phép dùng bạo lực, hủy hoại máy, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động,...
Đối với hành vi đình công trái pháp luật thì căn cứ theo quy định của pháp luật hiện hành, cụ thể:
- Người lợi dụng đình công gây mất trật tự, an toàn công cộng thì bị xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng theo quy định về vi phạm quy định trật tự công cộng của Nghị định số 144/2021/NĐ-CP;
- Người dùng bạo lực; hủy hoại máy, thiết bị hoặc tài sản của người sử dụng lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng theo quy định của Nghị định số 12/2022/NĐ-CP.
- Đồng thời, theo căn cứ tại Điều 34 của Nghị định số 12/2022/NĐ-CP có quy định về vi phạm giải quyết tranh chấp, thì người lao động sẽ bị phạt cảnh cáo đối với hành vi tham gia đình công sau khi có quyết định hoãn hoặc ngừng đình công của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
+ Người lao động có thể bị xử phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với các hành vi sau: Cản trở việc thực hiện đình công, kích động, lôi kéo hoặc ép buộc người lao động đình công; Cản trở người lao động không tham gia đình công đi làm việc; Dùng bạo lực; hủy hoại máy, thiết bị hoặc tài sản của người sử dụng lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
+ Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đới với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi sau đây: Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động; người lãnh đạo đình công hoặc điều động người lao động, người lãnh đạo đình công sang làm việc khác, đi làm việc ở nơi khác vì lý do chuẩn bị đình công hoặc tham gia đình công; Trù dập hoặc trả thù đối với người lao động tham gia đình công hoặc người lãnh đạo đình công; Đóng cửa tạm thời nơi làm việc trong trường: Trước 12 giờ so với thời điểm bắt đầu đình công ghi trong quyết định đình công; sau khi người lao động ngừng đình công; Gây khó khăn, cản trở hoặc can thiệp vào quá trình tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở lấy ý kiến về đình công.
Ngoài ra, phải áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc người sử dụng lao động nhận lại người lao động, người lãnh đạo đình công khi chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động, người lãnh đạo đình công hoặc hủy quyết định xử lý kỷ luật lao động, điều động người lao động, người lãnh đạo đình công sang làm việc khác, đi làm việc ở nơi khác vì lý do chuẩn bị đình công hoặc tham gia đình công và trả đủ tiền lương cho người lao động trong thời gian chấm dứt hợp đồng lao động đối với hành vi vi phạm quy định; Buộc người sử dụng lao động trả lương cho người lao động trong những ngày đóng cửa tạm thời nơi làm việc đối với hành vi vi phạm đóng cửa tạm thời nơi làm việc trong các trường hợp pháp luật quy định.
Như vậy, người có hành vi cản trở hay kích động người lao động đình công, tham gia đình công không đúng quy định sẽ bị xử phạt từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Mức phạt này sẽ là đối với cá nhân là từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng còn đối với tổ chức thì sẽ bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Trên đây là tư vấn của công ty Luật Minh Khuê muốn gửi tới quý khách hàng. Nếu quý khách có bất kỳ vướng mắc hay có câu hỏi pháp lý khác thì vui lòng liên hệ trực tiếp đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 qua số hotline: 1900.6162 để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng!