QRTD ở nơi công cộng là đề tài được rất nhiều quốc gia và các tổ chức nghiên cứu như: UN Women (Cơ quan LHQ về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ), ActionAid (Tổ chức quốc tế chống đói nghèo), CARE (Tổ chức nhân đạo hàng đầu chống đói nghèo toàn cầu và cứu trợ khẩn caaso), Plan Internation Việt Nam.... Hiện nay, ở nước ta mới đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này, như Nghiên cứu của tổ chức Action Aid đã thực hiện về QRTD ở Việt Nam năm 2014: "For women and girls can dream come true".

1. Khái niệm về quấy rối tình dục ở Việt Nam

Quấy rối tình dục (QRTD) là một trong những vấn đề xảy ra rất thường xuyên trong xã hội không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới. Quấy rối tình dục là hành vi được thực hiện dưới dạng hành động, lời nói, cử chỉ nhằm mục đích tình dục mà trái với ý muốn của người bị quấy rối.

Khái niệm về hành vi Quấy Rối Tình Dục được quy định lần đầu tiên trong Bộ luật lao động năm 2019 đã quy định cụ thể tại Điều 8 nghiêm cấm mọi hành vi Quấy rối tình dục ở nơi làm việc. 

Khoản 1 Điều 84 Nghị định 145/2020 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động, đã định nghĩa quấy rối tình dục như sau: 

"Quấy rối tình dục là hành vi có thể xảy ra dưới dạng trao đổi như đề nghị, yêu cầu, gợi ý, đe dọa, ép buộc đổi quan hệ tình dục lấy bất kỳ lợi ích nào liên quan đến công việc; hoặc những hành vi có tính chất tình dục không nhằm mục đích trao đổi, nhưng khiến môi trường làm việc trở nên khó chịu và bất an, gây tổn hại về thể chất, tinh thần, hiệu quả công việc và cuộc sống của người bị quấy rối." 

Khái niệm về quấy rối tình dục được quy định trong Nghị Định 145/2020 mới chỉ dừng lại ở nơi làm việc mà chưa bao gồm hết các địa điểm công cộng khác. Trên thực tế hiện nay, có rất nhiều hành vi quấy rối tình dục xảy ra ở nơi công cộng như vụ cưỡng hôn trong thang máy, toàn bộ sự việc đã được camera an ninh ghi lại nhưng người thực hiện quấy rối tình dục chỉ bị xử phạt 200.000 đồng theo Nghị định 167/2013.

2. Hành vi quấy rối tình dục:   

Hành vi quấy rối tình dục bao gồm hai yếu tố như:

(i) Quấy rối là hành vi trái với ý muốn, gây khó chịu, ảnh hưởng đến người khác;

(ii) Mục đích của hành vi có tính chất gợi dục như đưa ra những đề nghị, bình luận có tính chất gợi dục gây khó chịu, ảnh hưởng đến người bị quấy rối. Hành vi quấy rối này có thể được thể hiện dưới những dạng khác nhau như hành động (có tính chất đụng chạm) hoặc bằng lời nói, cử chỉ.

3. Đặc điểm của quấy rối tình dục:

- Quấy rối tình dục là một hình thức bạo lực dựa trên cơ sở giới nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (không phải là tội phạm). Là một biểu hiện nghiêm trọng của phân biệt đối xử về giới và vi phạm nhân quyền. 

- Bao gồm nhiều hành vi khác nhau tiếp xúc cơ thể không có sự đồng thuận như: túm, véo, tát hoặc cọ xát vào người khác để thỏa mãn nhu cầu tình dục, hoặc bằng lời nói như những lời mời gọi, nhận xét, tán tỉnh mang tính gợi dục về cơ thể hoặc ngoại hình của một người, yêu cầu được quan hệ tình dục, nhìn chằm chằm có tính chất khiêu dâm, rình mò và phô bày cơ quan sinh dục. 

- Phải thể hiện rõ mục đích tình dục và trái với ý muốn của người bị quấy rối. 

- Là hành vi được thực hiện bởi cá nhân, dưới dạng cử chỉ, hành động, lời nói nhằm mục đích tình dục.

- Có thể xảy ra ở bất cứ địa điểm công cộng nào và bất kể thời gian nào. 

- Thường không thể hiện rõ hậu quả hay thiệt hại về thể chất như các hành vi bạo lực tình dục, do đó pháp luật hiện nay mới chỉ xác định QRTD là một dạng vi phạm hành chính và sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo NĐ 167/2013 vì hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự, uy tín của người khác. 

4. Cấu thành của quấy rối tình dục là vi phạm hành chính:

- Mặt khách quan: 

+ Hành vi vi phạm là hành vi quấy rối tình dục được thực hiện dưới dạng hành động, cử chỉ, lời nói nhằm mục đích tình dục trái với ý muốn của người bị quấy rối. Chưa có mô tả cụ thể theo pháp luật nên mới chỉ được mô tả thành 3 nhóm trong Nghị định 145/2020 bao gồm:

a, Hành vi mang tính thể chất gồm hành động, cử chỉ, tiếp xúc, tác động vào cơ thể mang tính tình dục hoặc gợi ý tình dục;

b, Quấy rối tình dục bằng lời nói gồm lời nói trực tiếp, qua điện thoại hoặc qua phương tiện điện tử có nội dung tình dục hoặc ngụ ý tình dục;

c, Quấy rối tình dục phi lời nói gồm ngôn ngữ cơ thể, trưng bày, miêu tả tài liệu trực quan về tình dục hoặc liên quan đến hoạt động tình dục trực tiếp hoặc qua phương tiện điện tử. 

(i) Hậu quả, thiệt hại xảy ra, mối quan hệ nhân quả: Hành vi quấy rối tình dục được xác định là vi phạm hành chính là hành vi có cấu thành mang tính chất hình thức, trong mọi trường hợp không nhất thiết phải có thiệt hại xảy ra trên thực tế. Hậu quả có thể không ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất nhưng có thể gây ảnh hưởng tinh thần của nạn nhân (lo lắng, sợ hãi,.... thậm chí có thể dẫn dến việc tự tử). Có thể phụ thuộc vào mức độ thiệt hại và độ tuổi của nạn nhân để xác định hành vi quấy rối tình dục. Dâm ô với người dưới 16 tuổi, người bị quấy rối tình dục tự tử. 

(ii) Tang vật, phương tiện: có thể dấu hiệu bắt buộc phải có trong một số trường hợp như sử dụng điện thoại nhắn tin, bình luận, đề nghị có liên quan đến tình dục, gửi các hình ảnh có tính chất gợi dục. Việc chứng minh thực tế gặp khó khăn vì trong số trường hợp là các cử chỉ, lời nói, hành động như đụng chạm vào bộ phận nhạy cảm của cơ thể, lời nói, bình luận. Cần sử dụng các phương tiện ghi hình. ghi âm để làm bằng chứng. 

(iii) Thời hạn, địa điểm QRTD: có thể xảy ra trong bất kỳ thời gian nào và bất kỳ nơi công cộng nào kể cả không gian mạng. 

- Mặt chủ quan: Người thực hiện hành vi quấy rối tình dục phải nhận thức được hành vi trái pháp luật của mình và cố tình thực hiện. Thường thể hiện với lỗi cố ý và mục đích tình dục rõ ràng. Việc chứng minh rõ lỗi cố ý và mục đích tình dục là rất quan trọng trong việc xác định có hay không có hành vi quấy rối tình dục là vi phạm hành chính.

- Chủ thể vi phạm: là hành vi do cá nhân thực hiện nên thể hiện rõ mục đích tình dục và chủ thể thực hiện hành vi quấy rối tình dục là người từ đủ 14 tuổi trở lên có những cử chỉ, bình luận, lời nói hoặc hành động gợi dục trái với ý muốn của người bị quấy rối tình dục. 

- Khách thể: các quan hệ xã hội bị các hành vi quấy rối tình dục xâm hại tới. Khách thể trực tiếp mà pháp luật trực tiếp bảo vệ là danh dự, nhân phẩm, uy tín của người bị quấy rối bị xâm hại bởi hành vi quấy rối tình dục.

Để xác định hành vi quấy rối tình dục có là hành vi vi phạm hành chính hay không cần phải xác định cả bốn yếu tố cấu thành và trên thực tế yêu cầu người bị quấy rối tình dục phải cung cấp các bằng chứng, chứng cứ để chứng minh việc bị quấy rối tình dục.

5. Xử phạt hành chính đối với hành vi quấy rối tình dục ở nơi công cộng:

Hành vi quấy rối tình dục đang được áp dụng xử phạt theo Nghị định 167/2013 theo Điều 5, Khoản 1: 

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: 

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; 

- Chủ thể có thẩm quyền xử phạt: là những cá nhân có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi trong lĩnh vực an ninh trật tự xã hội. 

- Thủ tục xử phạt: Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2021 đã quy định cụ thể về thủ tục xử phạt bao gồm: thủ tục xử phạt không lập biên bản và thủ tục xử phạt có lập biên bản. Do mức phạt quy định hiện nay áp dụng đối với hành vi QRTD theo Nghị định 167/2013 là từ 100.000 đến 300.000 đồng nên mức phạt trung bình là 200.000. Việc xử phạt đối với hành vi này không cần lập biên bản. Việc chứng minh hành vi QRTD dựa vào các thiết bị điện tử, kỹ thuật vì thế thủ tục xử phạt sẽ được thực hiện theo thủ tục và có lập biên bản.

Căn cứ Điều 155 Bộ Luật Hình sự 2015 quy định về tội làm nhục người khác như sau:

Điểm e Khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên

b) Đối với 02 người trở lên

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn

d) Đối với người đang thi hành công vụ

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy, với hành vi quấy rối tình dục cũng có thể bị xử lý hình sự. 

- Các biện pháp khắc phục hậu quả: hành vi quấy rối tình dục sẽ gây ảnh hưởng đến tinh thần của nạn nhân. Với những hành vi đó được xác định là hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự và người thực hiện hành vi buộc phải xin lỗi công khai, nhằm mục đích khôi phục danh dự, nhân phẩm của người bị quấy rối tình dục.