1. Trách nhiệm thuộc về chủ thể nào khi đại lý của người vận chuyển thay đổi ngày ký vận đơn?

Theo thông lệ hàng hải quốc tế, vận đơn chỉ được cấp cho người gửi hàng sau khi hàng đã được xếp lên tàu. Thông thường, vận đơn do đại lý của người vận chuyển hoặc thuyền trưởng ký phát.

Trường hợp đại lý hoặc thuyền trưởng tự tiện thay đổi ngày ký vận đơn (có thể là ký sớm hơn hoặc muộn hơn ngày thực tế hàng đã xếp lên tàu) thì người vận chuyển hoàn toàn vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hậu quả xảy ra.

Trách nhiệm của người vận chuyển, thường gọi là người ủy thác (Principal), với người đại lý (Agent) được quy định tại Điều 239 Bộ luật hàng hải năm 2015

Quyền hạn của đại lý được quy định trong hợp đồng vói người vận chuyển. Bên cạnh nhũng công việc đã nêu trong hợp đồng, đại lý còn phải thực thi một cách mẫn cán hợp lý các công việc khác mặc dầu không nêu chi tiết trong hợp đồng. Đại lý có quyền quyết định cách thức hoàn thành các công việc này nhưng phải hợp lý và phù hợp với quy định chung trong hợp đồng là phải quan tâm thích đáng, đúng mực quyền lợi của người ủy thác khi tiến hành các công việc đó như là các công việc thông thường khác quy định rõ trong hợp đồng. Đại lý phải luôn nhớ rằng mình làm các công việc và ký kết các loại hợp đồng dịch vụ phục vụ cho người vận chuyển là thay mặt cho họ và vì quyền lợi của họ. Điều này cũng có nghĩa là nếu đại lý không vượt quá thẩm quyền của mình thì mọi hợp đồng dịch vụ mà đại lý ký thay mặt cho người vận chuyển sẽ ràng buộc người vận chuyển.

Trong trường hợp đại lý tự tiện vượt quá thẩm quyền ủy thác, ví dụ như tự tiện thay đổi ngày ký vận đơn như tình huống đặt ra, thì các tòa án quốc tế vẫn bắt người vận chuyển phải chịu mọi hậu quả xảy ra.

 

2. Vụ kiện liên quan đến trách nhiệm khi đại lý thay đổi ngày ký vận đơn

Dưới đây sẽ là một vụ kiện đã được tòa án hàng hải London Vuong quốc Anh xét xử như sau:

"Năm 1998 hãng vận chuyển Soubert nhận chở 273.000 bao gạo từ một cảng Trung quốc đi Cuba. Trong đó xác định:

- Người bán và là người gửi hàng là Cofco;

- Người mua và là người nhận hàng là Alimport,;

- Đại lý của Soubert ở cảng xếp hàng là Penavico.

Ngày 8/8/1998 việc xếp hàng hoàn thành. Theo Luật hàng hải Trung Quốc cũng như thông lệ hàng hải quốc tế thì vận đơn do đại lý Penavico ký phát thay mặt người vận chuyển lẽ ra phải ghi ngày cấp là 8/8/1998, song với sự thông đồng của người bán họ đã ghi lùi ngày là 5/8/1998.

Trong quá trình vận chuyển, tổn thất hàng là các bao gạo đã xảy ra sau ngày 5/8/1998 nhưng trước ngày 8/8/1998. Vì vậy, người mua đang cầm giữ vận đơn đã khiếu nại người vận chuyển đòi bồi thường. Tuy nhiên người vận chuyển đã bác bỏ khiếu nại của người mua vì cho rằng thực tế việc xếp hàng đã kết thúc vào ngày 8/8/1998, nếu tổn thất xảy ra trước ngày 8/8/1998 thì họ được miễn trách nhiệm và việc ghi lùi ngày cấp vận đơn là lỗi của đại lý đã không được người vận chuyển ủy quyền làm như vậy. Do đó, người vận chuyển đã đề nghị người mua kiện người đại lý vì người vận chuyển không hề có một sự ủy quyền nào, dù thực tế hay ngấm ngầm, cho đại lý làm như vậy.

Tòa án phán quyết rằng vận đơn là chứng từ có thể mua bán chuyển nhượng được, các chi tiết trên đó phải trung thực và chính xác. Nếu khi nào cũng yêu cầu chủ hồng, người nhận hàng hoặc người được chuyển nhượng vận đơn phải kiểm tra kỹ tính chính xác của nó trước khi chấp nhận sẽ gây cản trở cho sự phát triển thương mại quốc tế. Vì vậy, trong trường hợp cụ thể này người vận chuyển đã vi phạm hơp đồng vận chuyển, do vậy phải chịu trách nhiệm về mọi hậu quả phát sinh từ sự vi phạm đó.

Trân trọng!

 

3. Ký vận đơn, dạng ký phát vận đơn

- Cơ sở pháp lý: Điều 159 Bộ luật hàng hải năm 2015

"Điều 159. Ký phát vận đơn

1. Theo yêu cầu của người giao hàng, người vận chuyển có nghĩa vụ ký phát cho người giao hàng một bộ vận đơn.

2. Vận đơn có thể được ký phát dưới dạng sau đây:

a) Ghi rõ tên người nhận hàng, gọi là vận đơn đích danh;

b) Ghi rõ tên người giao hàng hoặc tên những người do người giao hàng chỉ định phát lệnh trả hàng, gọi là vận đơn theo lệnh;

c) Không ghi rõ tên người nhận hàng hoặc người phát lệnh trả hàng, gọi là vận đơn vô danh.

3. Trường hợp trong vận đơn theo lệnh không ghi rõ tên người phát lệnh trả hàng thì người giao hàng mặc nhiên được coi là người có quyền đó."

Theo đó, khi có yêu cầu của người giao hàng, thì lúc này người vận chuyển có nghĩa vụ ký phát cho người giao hàng một bộ vận đơn.

Vận đơn được ký dưới 3 dạng:

Thứ nhất, dạng ký phát vận đơn đích danh

Đây là vận đơn mà trên đó ghi rõ tên, địa chỉ của người nhận hàng, không giống vận đơn theo lệnh là chỉ ghi chung chung nhất có thể.

Theo đó, vận đơn đích danh chỉ có người nhận hàng có tên ghi trên vận đơn mới được nhận hàng đã đích danh chính người đó nhận. Vận đơn đích danh không thể chuyển nhượng được bằng cách ký hậu.

Thứ hai, dạng ký phát vận đơn theo lệnh

Đây là vận đơn mà tại ô “Người nhận hàng” (Consignee) không ghi tên người nhận hàng, mà ghi hai chữ “Theo lệnh” (To order) hoặc theo lệnh của một người nào đó được người giao hàng (Shipper) chỉ định phát lệnh trả hàng.

Ví dụ như sau: “Theo lệnh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam...” (To order of the Bank for Foreign Trade of Vietnam...). Trường hợp này vận đơn chỉ ghi hai từ: “Theo lệnh” (To order), mà không ghi rõ theo lệnh của ai, ai là người ra lệnh, lúc này người giao hàng mặc nhiên là người có quyền phát lệnh trả hàng.

Vì tính chất của vận đơn theo lệnh như vậy nên vận đơn theo lệnh này có thể chuyển nhượng được bằng cách người có quyền phát lệnh trả hàng ký hậu (ký ở mặt sau vận đơn). Nếu vận đơn không được ký hậu thì chỉ có người có quyền phát lệnh trả hàng mới có thể nhận được hàng từ người vận chuyển.

Trường hợp trong vận đơn theo lệnh không ghi rõ tên người phát lệnh trả hàng thì người giao hàng mặc nhiên được coi là người có quyền đó.

Thứ ba, dạng ký phát vận đơn vô danh

Đây là vận đơn trên đó ô “Người nhận hàng” bỏ trống, không ghi gì.

Vận đơn này hoàn lại hoàn toàn trái ngược với vận đơn đích danh ở trên, chỉ đích danh một chủ thể nhạn hàng. Theo đó, người vận chuyển giao hàng sẽ cho bất kỳ người nào xuất trình vận đơn cho họ. Vận đơn vô danh được chuyển nhượng bàng cách trao tay.

Trân trọng!

 

4. Trách nhiệm của người ủy thác trong trường hợp người đại lý có hành động vượt quá phạm vi 

Trách nhiệm của người vận chuyển, thường gọi là người ủy thác (Principal), với người đại lý (Agent) được quy định tại Điều 239 Bộ luật hàng hải năm 2015 như sau:

"Điều 239. Trách nhiệm của người ủy thác

1. Người ủy thác có trách nhiệm hướng dẫn người đại lý tàu biển thực hiện dịch vụ đã ủy thác khi cần thiết và phải ứng trước theo yêu cầu của người đại lý tàu biển khoản tiền dự chi cho dịch vụ được ủy thác.

2. Trường hợp người đại lý tàu biển có hành động vượt quá phạm vi ủy thác thì người ủy thác vẫn phải chịu trách nhiệm về hành động đó, nếu ngay sau khi nhận được thông tin này mà người ủy thác đã không thông báo cho những người liên quan biết là mình không công nhận hành động này của người đại lý tàu biển."

Theo điều luật trên sẽ có hai trường hợp xảy ra:

Thứ nhất, nếu trường hợp người đại lý tàu biển có hành động vượt quá phạm vi ủy thác mà ngay sau khi nhận được thông tin này mà người ủy thác đã không thông báo cho những người liên quan biết là mình không công nhận hành động này của người đại lý tàu biển thì người ủy thác vẫn phải chịu trách nhiệm về hành động đó.

Thứ hai, nếu trường hợp người đại lý tàu biển có hành động vượt quá phạm vi ủy thác mà ngay sau khi nhận được thông tin này mà người ủy thác đã thông báo cho những người liên quan biết là mình không công nhận hành động này của người đại lý tàu biển thì người ủy thác có thể không phải chịu trách nhiệm về hành động này của người đại lý tàu biển.

Trân trọng!

 

5. Trường hợp hàng hóa được coi là đã giao tại cảng

Theo quy định của pháp luật hàng hải "Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là thỏa thuận được giao kết giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển, theo đó người vận chuyển thu giá dịch vụ vận chuyển do người thuê vận chuyển trả và dùng tàu biển để vận chuyển hàng hóa từ cảng nhận hàng đến cảng trả hàng."

Theo đó:

  • Hàng hóa là máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, nhiên liệu, hàng tiêu dùng và các động sản khác, kể cả động vật sống, container hoặc công cụ tương tự do người giao hàng cung cấp để đóng hàng được vận chuyển theo hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển;
  • Người thuê vận chuyển là người tự mình hoặc ủy quyền cho người khác giao kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển với người vận chuyển. Trường hợp hợp đồng vận chuyển theo chứng từ vận chuyển, người thuê vận chuyển được gọi là người giao hàng;
  • Người vận chuyển là người tự mình hoặc ủy quyền cho người khác giao kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển với người thuê vận chuyển;
  • Người vận chuyển thực tế là người được người vận chuyển ủy thác thực hiện toàn bộ hoặc một phần việc vận chuyển hàng hóa bằng đường biển;
  • Người nhận hàng là người có quyền nhận hàng quy định tại Điều 162 và Điều 187 của Bộ luật này.
  • Bến cảng là khu vực bao gồm vùng đất và vùng nước thuộc một cảng biển, được xây dựng cầu cảng, kho, bãi, nhà xưởng, trụ sở, cơ sở dịch vụ, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước, vùng nước trước cầu cảng, luồng hàng hải và các công trình phụ trợ khác. Bến cảng có một hoặc nhiều cầu cảng.

Theo thông lệ hàng hải quốc tế cũng như quy định tại Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015 thì hàng hóa được coi là đã giao khi có một trong những trường hợp sau đây:

  • Người vận chuyển hoàn thành việc trả hàng cho người nhận hàng;
  • Người vân chuyển giao hàng cho người được người nhận hàng ủy quyền theo đúng quy định trong hợp đồng vận chuyển hoặc tập quán thương mại áp dụng tại cảng trả hàng;
  • Người vận chuyển giao hàng cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cho bên thứ ba theo quy định của pháp luật hoặc quy định tại cảng trả hàng.

Trân trọng!