Luật sư tư vấn:
Vấn đề bạn quan tâm, cần tìm hiểu - Luật Minh Khuê xin trao đổi theo những nguồn thông tin mà chúng tôi tìm hiểu được thì bản chất kinh tế của hợp đồng cho vay thể hiện như sau:
Thứ nhất, hợp đồng cho vay là hình thức để các bên giải quyết nhu cầu vốn cho đời sống, sản xuất, kinh doanh
Bằng việc ký kết các hợp đồng cho vay, các doanh nghiệp, cá nhân được vay vốn theo tiến độ hợp đồng, phù hợp với kế hoạch sử dụng vốn, thực hiện cốc nghĩa vụ thanh toán; mở rộng đầu tư, sản xuất, kinh doanh thúc đẩy nền sản xuất hàng hóa phát triển, tạo công ăn việc làm cho người lao động. Do đó, ngân hàng phải có nghĩa vụ giải ngân kịp thời, đúng tiến độ cam kết, các ngân hàng không đưa ra những lý do thiếu chính đáng để trì hoãn nghĩa vụ giải ngân, gây thiệt hại cho bên vay.
Nguồn vốn để các tổ chức tín dụng cho vay không chỉ dành riêng cho cá nhân hoặc nhóm cá nhân nào. Với nguồn tài nguyên vốn hạn hẹp, các chủ thể đang gặp khó khăn về tài chính sẽ khó có cơ hội tiếp cận vốn vay theo các điều kiện khắt khe của ngân hàng. Vì vậy, quyền tiếp cận vốn vay được đặt ra mục đích để giải quyết các nhu cầu vốn đa dạng nêu trên. Đó còn là cơ sở để các tổ chức, cá nhân không bị cản trở, thực thi đầy đủ quyền tiếp cận tín dụng nếu họ đã tuân thủ các điều kiện vay vốn được pháp luật cho phép, cho dù đó là thực thể khách hàng vay nào.
Thứ hai, tổ chức tín dụng tham gia quan hệ hợp đồng cho vay nhằm mục tiêu kinh doanh để sinh lời
Hợp đồng cho vay là phương tiện để các tổ chức tín dụng thực hiện mục đích kinh doanh, sinh lời. Chức năng này gắn liền với các tổ chức tín dụng, như được đánh giá - “ngay từ khi hình thành các ngân hàng thương mại”, với vai trò “tạo ra giá trị thặng dư của đồng tiền” (tính tạo tiền). Khác với các giao dịch kinh tế khác, giao dịch cho vay của các ngân hàng thương mại luôn mang tính hệ thống, phát triển theo bề rộng cả trong và ngoài nước, có quy mô lớn, khó kiểm soát nếu không có cơ chế quản lý chặt chẽ, phù hợp. Để mang lại hiệu quả lợi nhuận, tổ chức tín dụng luôn tìm tòi, cung ứng những sản phẩm tín dụng mới, tiện ích, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn đa dạng của khách hàng.
Thứ ba, lãi suất được thỏa thuận phù hợp với quy luật cung cầu của nền kinh tế
Bên vay khi sử dụng tiền vay vào mục đích tiêu dùng, sinh hoạt hay các hoạt động sản xuất, kinh doanh sẽ mang lại lợi ích kinh tế, dân sự nhất định. Một phần lợi nhuận đó được trả cho các tổ chức tín dụng, đây chính là giá cả khoản vay. Với phương châm “đi vay để cho vay”- Cụm từ này được diễn giải là “mua khoản vay với giá thấp, bản khoản vay với giá cao, phần chênh lệch đó là lợi nhuận”, tìm kiếm lợi nhuận, lãi suất hợp lý còn là cơ hội để thúc đẩy khách hàng vay vốn. Vì vậy, quyền tự do thỏa thuận lãi suất được pháp luật quy định, bảo đảm cho các nhu cầu chính đáng này của ngân hàng. Lãi suất trong quan hệ hợp đồng cho vay còn là cơ sở để vận dụng, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng kinh tế. Theo Điều 306 Luật Thương mại năm 2005, tiền lãi do chậm thanh toán sẽ được tính theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán, tương ứng với thời gian chậm trả. Đối với lĩnh vực kinh doanh nói chung, pháp luật cho phép các bên phạt vi phạm hợp đồng nhưng không ấn định lãi suất chậm thanh toán. Các tòa án vẫn thường áp dụng “lãi suất nợ quá hạn trung bình” của 03 (ba) ngân hàng thương mại cho lĩnh vực này với lý do, các đơn vị kinh tế cũng phải đi vay để bù đắp những thiếu hụt tài chính.
Thứ tư, quan hệ hợp đồng cho vay tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với bên cho vay
Khác với lĩnh vực kinh doanh, thương mại, rủi ro khi ký kết, thực hiện hợp đồng vay vẫn xảy ra, nhưng phạm vi, mức độ tác động có những giới hạn nhất định. Rủi ro giữa các chủ thể thương mại, mức độ ảnh hưởng dây chuyền, ở phạm vi rộng không cao. Trong khi đó, lĩnh vực tín dụng ngân hàng, rủi ro tín dụng đến từ nhiều phía, nguy cơ vượt ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng, gây thiệt hại lón, ảnh hưởng đến uy tín, chất lượng của hệ thống tín dụng.
Những tác động khách quan và chủ quan phát sinh rủi ro có thể xảy ra như sau: Công tác quản lý điều hành của Nhà nước về chính sách tín dụng tác động trực tiếp đến thay đổi hợp đồng cho vay (thường thấy trong các điều chỉnh lãi suất); Các tổ chức tín dụng buông lỏng công tác quản trị rủi ro; Áp lực mỗ rộng tín dụng dẫn đến những quyết định cho vay dưới chuẩn, khó thu hồi vốn; Rủi ro khách quan do khủng hoảng, tác động tiêu cực của nền kinh tế, bên vay kinh doanh thua lỗ, không kịp thời trả nợ... Giảm thiểu rủi ro cho vay luôn là yêu cầu được pháp luật đặt ra đối với các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức tín dụng. Công tác này được thực hiện thường xuyên thông qua các biện pháp pháp lý, nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng xét duyệt tín dụng, tăng cường kiểm soát, giám sát; thiết lập quy trình cho vay chặt chẽ, phù hợp với năng lực của tổ chức tín dụng; chủ động thu hồi tài sản xử lý nợ;...
Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, hoạt động vay vốn, giải ngân vốn... Quý khác hàng vui lòng gọi: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật ngân hàng, tài chính trực tuyến qua tổng đài điện thoại. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.