1. Mở đầu vấn đề

Chính sách pháp luật thông tin là loại chính sách pháp luật mới trong hệ thống chính sách pháp luật nước ta.

Trong thời gian gần đây loại chính sách pháp luật này được đặc biệt quan tâm, do vậy, pháp luật thông tin phát triển nhanh chóng, tích cực. Chính sách pháp luật thông tín là hình thức thể hiện đặc biệt của chính sách thông tin quốc gia, đóng vai trò quan trọng trong phát triển xã hội, đặc biệt phát triêh xã hội số, xã hội thông tin.

2. Khái niệm chính sách pháp luật thông tin

Chính sách là một hệ thống nguyên tắc có chủ ý hướng dẫn các quyết định và đạt được các kết quả hợp lý. Một chính sách là một tuyên bố về ý định, và được thực hiện như một thủ tục hoặc giao thức. Các chính sách thường được cơ quan quản trị thông qua trong một tổ chức. Chính sách có thể hỗ trợ cả việc đưa ra quyết định chủ quan và khách quan. Các chính sách hỗ trợ trong việc ra quyết định chủ quan thường hỗ trợ quản lý cấp cao với các quyết định phải dựa trên thành tích tương đối của một số yếu tố và do đó thường khó kiểm tra khách quan, ví dụ: chính sách cân bằng giữa công việc và cuộc sống. Các chính sách tương phản để hỗ trợ việc ra quyết định khách quan thường hoạt động trong tự nhiên và có thể được kiểm tra khách quan, ví dụ: chính sách mật khẩu.

Chính sách pháp luật thông tin là hoạt động có căn cứ khoa học, nhất quán và hệ thôhg của các cơ quan nhà nước và của các thiết chế phi nhà nước để xây dựng chiến lược và sách lược phát triển pháp luật thông tin, nâng cao hiệu quả của cơ chế đỉêu chỉnh pháp luật trong quá trình thông tin hóa, tôỉ ưu hóa thông tin và hình thành nên xã hội thông tin.

Chính sách pháp luật thông tin là loại hoạt động chính trị - pháp luật có tính hướng đích nhằm hình thành nên trình độ văn hóa pháp luật cao, phù hợp với hệ thống các quan hệ kinh tế - xã hội đang tồn tại một cách khách quan trong xã hội. Nền tảng của loại chính sách này là lý luận giải thích và làm sáng tỏ các hiện thực pháp luật của hiện đại và tương lai để bảo đảm cho sự phát triển tiến bộ của xã hội.

Việc tạo ra thông tin, thu nhập, chỉnh sửa, tích lũy, lưu giữ, tìm kiếm, phổ biến và cung cấp thông tin cho người dùng tin, việc xây dựng và sử dụng các công nghệ thông tin và các phương tiện bảo đảm các công nghệ thông tin, việc bảo vệ thông tín và các quyền của các chủ thể tham gia quá trình thông tin không thể được thực hiện nếu thiếu sự tham gia của Nhà nước. Tin học hóa với tư cách là một quá trình không thể đảo ngược và tất yếu buộc Nhà nước phải có nghĩa vụ bảo vệ các lợi ích của công dân, xã hội và Nhà nước, cũng như tạo ra các điều kiện để bảo đảm có chất lượng và hiệu quả bằng thông tin cho công dân, các cơ quan quyền lực nhà nước, các tổ chức, phát triển hệ thống và mạng lưới thông tin ở trung ương và địa phương, bảo đảm tính thống nhất, liên tục và sự tương tác lẫn nhau trong không gian thông tin thống nhất ở nước ta. Cân nhắc tốc độ phát triển của lĩnh vực này trong thời gian qua có thể nói rằng, chính sách pháp luật của Nhà nước ta chưa đáp ứng sự phát triển của lĩnh vực thông tin.

Đồng thời, hiện nay mạng Internet toàn cầu đã đạt đến trình độ phát triển mà ở trình độ đó có khả năng tác động đến đời sống của xã hội Việt Nam. Điều này đòi hỏi phải có sự chuyên đổi tất yếu từ sự tự phát triển (sự tự điều chỉnh) đến sự điều chỉnh của Nhà nước đối vói hoạt động thông tin gắn liền với mạng thông tin giao tiếp toàn cầu đó. Sự thiếu vắng chính sách nhà nước rõ ràng trong lĩnh vực điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trong quá trình các thể nhân và pháp nhân sử dụng mạng Internet để hoạt động kinh doanh đã dẫn đến việc các chủ thể tiến hành hoạt động thương mại điện tử không tuân thủ các quy phạm pháp luật mà vẫn chưa bị xử lý thỏa đáng.

3. Phân biệt chính sách thông tin công và chính sách, pháp luật thông tin

Cần phân định rõ chính sách công và chính sách pháp luật và tương tự như vậy, cũng cần phân biệt chính sách thông tin công và chính sách, pháp luật thông tin.

Chính sách thông tin công bao quát các cơ sở, nền tảng để giải quyết các nhiệm vụ quan trọng như:

- Hình thành không gian thông tin thống nhất của Việt Nam và đưa Việt Nam vào không gian thông tin toàn cầu;

- Bảo đảm an ninh thông tin của cá nhân, xã hội và Nhà nước;

- Hình thành ý thức về dân chủ cho quần chúng nhân dân;

- Hình thành và phát triển ngành dịch vụ thông tin;

- Mở rộng không gian điều chỉnh pháp luật các quan hệ xã hội, trong đó có các quan hệ gắn liền việc thu nhận, phổ biến và sử dụng thông tin.

Chính sách thông tin công cần phải củng cố mối liên hệ giữa trung ương và địa phương, bảo đảm tính toàn vẹn của đất nước.

Việc bảo đảm pháp luật cho chính sách thông tin công của nước ta cần được phát triển theo các định hướng sau đây:

- Xây dựng các đạo luật mới, sửa đổi, bô’ sung và phát triển pháp luật hiện hành trong lĩnh vực thông tin;

- Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, nâng cao hiệu quả của các quy phạm pháp luật thông tin;

- Hệ thống hóa và pháp điển hóa các văn bản pháp luật thông tín;

- Kết nối đồng bộ hóa các đạo luật hiện hành và các đạo luật đang được soạn thảo trong lĩnh vực thông tin với các văn bản pháp luật của các ngành pháp luật khác;

- Xây dựng các văn bản dưới luật, các văn bản hướng dẫn áp dụng và các cơ chế bảo đảm cho việc áp dụng có hiệu quả các quy phạm pháp luật hiện hành và các văn bản quy phạm pháp luật đang soạn thảo;

- Tham gia tích cực vào việc xây dựng pháp luật quốc tế trong lĩnh vực thông tin.

Các biện pháp ưu tiên hàng đầu của chính sách thông tín quốc gia bao gồm: phân tích các quá trình phát triển của lĩnh vực thông tin; làm sáng tỏ các chỗ hổng và sự trùng lặp của pháp luật thông tín và các nguồn của nó; các văn bản quy phạm pháp luật thông tin; phân tích các nguyên nhân làm cho pháp luật thông tin hiện hành có hiệu quả thấp và đưa ra tổng thể các giải pháp để khắc phục tình hình đó; nâng cao văn hóa pháp luật thông tin trong xã hội.

Như vậy, cần phải nghiên cứu để xây dựng quan điểm tổng thể về chính sách pháp luật thông tin ở nước ta.

Quan điểm tổng thể về chính sách pháp luật thông tín do nhiều yếu tố quyết định, đó là: toàn cầu hóa các công nghệ thông tin giao tiếp; những biến đổi kinh tế - xã hội to lớn đã và đang diễn ra ở Việt Nam; tin học hóa hoạt động quản lý của các cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương; sự cạnh tranh kịch liệt hơn về thuế - ngân sách ở phạm vi quốc tế trong lĩnh vực đánh thuế đối với các kết quả của hoạt động kinh doanh điện tử, sự phát triển mạnh mẽ của các quan hệ kinh tế quốc tế gắn liền với việc sử dụng mạng máy tính điện tử toàn cầu.

4. Mục tiêu và nhiệm vụ của chính sách pháp luật thông tin

Quan điểm tổng thể về chính sách pháp luật thông tin cần bao gồm các mục tiêu và nhiệm vụ sau đây:

- Tuân thủ các quyền và tự do hiến định trong lĩnh vực thu nhận và sử dụng thông tín;

- Giữ gìn và củng cố các giá trị đạo đức, tinh thần của xã hội, tiềm năng văn hóa và khoa học của đất nước;

- Bảo đảm việc đưa thông tin đầy đủ về chính sách của Việt Nam, quan điểm chính thức của Việt Nam đối với các sự kiện có ý nghĩa chính trị - xã hội đến với Nhân dân Việt Nam và cộng đồng quốc tế, bảo đảm để công dân tiếp cận được các nguồn lực thông tin công khai;

- Phát triển công nghệ thông tin hiện đại, công nghiệp thông tín quốc gia, trong đó có công nghiệp các phương tiện thông tin giao tiếp truyền hình và bưu điện, bảo đảm đáp ứng các nhu cầu của thị trường trong nước bằng sản phẩm trong nước và đưa sản phẩm đó ra thị trường thế giói, cũng như bảo đảm việc tích lũy, bảo vệ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực thông tin quốc gia;

- Bảo vệ các nguồn lực thông tin khỏi sự xâm nhập không được phép, bảo đảm an ninh cho các hệ thống thông tin và giao tiếp công cộng đã được triển khai cũng như đang xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam.

5. Định hướng cơ bản của chính sách pháp luật thông tin

Các mục trên đây đã phân tích việc bảo đảm về mặt pháp luật cho chính sách thông tin quốc gia ở nước ta. Đó cũng chính là các định hướng cơ bản của chính sách pháp luật thông tin cần được đưa vào quan điểm tổng thể về chính sách pháp luật thông tin. Các định hướng cơ bản, cụ thể đó là:

- Xây dựng các đạo luật mới, sửa đổi, bổ sung và phát triêh pháp luật hiện hành trong lĩnh vực thông tin;

- Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, nâng cao hiệu quả của các quy phạm pháp luật thông tin;

- Hệ thống hóa và pháp điển hóa các văn bản pháp luật thông tin;

- Kết nối và hài hòa hóa các đạo luật hiện hành và các đạo luật được soạn thảo trong lĩnh vực thông tin với các văn bản pháp luật của các ngành pháp luật khác;

- Xây dựng các văn bản dưới luật, các văn bản hướng dẫn áp dụng và các cơ chế bảo đảm cho việc áp dụng có hiệu quả các quy phạm pháp luật hiện hành và các văn bản quy phạm pháp luật đang soạn thảo;

- Xây dựng và áp dụng các phương pháp đánh giá hiệu quả của pháp luật thông tin hiện hành;

- Tham gia tích cực vào việc xây dựng pháp luật quốc tế trong lĩnh vực thông tin.

Cần xây dựng chiến lược phát triêh xã hội thông tin ở nước ta. Chiến lược đó ghi nhận các mục tiêu, các quan điểm, các định hướng, các nhiệm vụ mang tính chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực sử dụng và phát triển công nghệ thông tin và giao tiếp công cộng, khoa học, giáo dục và văn hóa để xây dựng và phát triển xã hội thông tin ở nước ta. Chiến lược đó là nền tảng, cơ sở cho việc tiếp tục nghiên cứu, xây dựng các quan điểm học thuật, các chương trình và kế hoạch khác để xác định các mục tiêu và các định hướng hoạt động của các cơ quan nhà nước, cũng như các nguyên tắc và các cơ chế tương tác của các cơ quan nhà nước với các tổ chức và công dân trong lĩnh vực phát triển xã hội thông tin ở nước ta. Cần lưu ý rằng, các nghiên cứu phải bao hàm cả các giá trị kiểm tra, đánh giá về các chỉ số phát triêh xã hội thông tin ở nước ta đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Có như vậy, kết quả nghiên cứu mới thể hiện chính sách pháp luật thông tin ở giai đoạn phát triển hiện nay của Việt Nam.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.