1. Nhiệm vụ của môn học

Chính sách pháp luật là yếu tố tất yếu của sự phát triển pháp luật trong thế kỷ XXI. Chính sách pháp luật là phương tiện quản lý các quá trình phát triển pháp luật của từng quốc gia cụ thế, nâng cao mức độ điều chỉnh, tính có trật tự và tính có tổ chức của tồn tại pháp luật. Sự hình thành phạm trù "chính sách pháp luật" do chính đời sống xã hội quy định. Đó là nhu Cầu về chính sách pháp luật với tư cách là một hiện tượng thể hiện hoạt động có hệ thống, nhất quán và được lập luận về mặt khoa học trong lĩnh vực điều chỉnh pháp luật trong điều kiện pháp luật ngày càng được đánh giá cao và khả năng hoàn thiện xã hội gắn liền chặt chẽ với pháp luật.

Hiện nay, chính sách pháp luật không chỉ đơn thuần là định hướng nghiên cứu khoa học mang tính cấp bách mà còn là lĩnh vực nghiên cứu thu nhận được những kết quả khoa học hiện thực. Điều đó dẫn đến kết quả là những thành tựu của nghiên cứu chính sách pháp luật được đưa vào giảng dạy trong các cơ sở đào tạo, cung cấp những luận cứ khoa học cho xây dựng, và thực hiện chính sách pháp luật.

Như vậy, lý luận và thực tiễn về chính sách pháp luật được hình thành không chỉ với tư cách một cách tiếp cận, một định hướng nghiên cứu của khoa học luật học mà còn trở thành một môn học trong chương trình đào tạo cán bộ có trình độ cao cho đất nước.

Chính sách pháp luật là môn khoa học và môn học về nhận thức pháp luật, về các khả năng của pháp luật, về các định hướng sử dụng pháp luật để giải quyết các nhiệm vụ do xã hội đặt ra. Đồng thời, đây là môn khoa học và môn học có tính chất thế giới quan, lý luận chung và thực tiễn nhằm cung cấp những hiểu biết để chính sách pháp luật ở nước ta có được tính chất khoa học chân chính, được kiểm chứng bởi lý luận và thực tiễn.

Lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp của các nhà luật học và các nhà chính sách công, đặc biệt của các thạc sĩ, tiến sĩ luật học và thạc sĩ, tiến sĩ chính sách công bao gồm việc soạn thảo và thực hiện các quy phạm pháp luật; bảo đảm pháp chế và trật tự pháp luật; tiến hành các nghiên cứu khoa học, giáo dục và đào tạo. Khách thể hoạt động của các thạc sĩ luật học, tiến sĩ luật học và các thạc sĩ, tiến sĩ chính sách công là các quan hệ xã hội trong lĩnh vực xây dựng quy phạm pháp luật, thực hiện các quy phạm pháp luật, bảo đảm pháp chế và trật tự pháp luật.

Việc nghiên cứu môn học Chính sách pháp luật trang bị các kiến thức để chuẩn bị cho các thạc sĩ, tiến sĩ luật học và thạc sĩ, tiến sĩ chính sách công thực hiện các hoạt động nghề nghiệp sau đây:

- Hoạt động xây dựng pháp luật;

-Hoạt động áp dụng pháp luật;

- Hoạt động bảo vệ pháp luật;

- Hoạt động tham mưu, tư vấn, thẩm định pháp luật;

- Hoạt động tổ chức quản lý;

- Hoạt động nghiên cứu khoa học;

- Hoạt động giáo dục và đào tạo.

2. Mục đích môn học

Mục đích của môn học Chính sách pháp luật là giúp người học có những hiểu biết, khả năng, năng lực, kỹ năng văn hóa chung và văn hóa nghề nghiệp cần thiết, đầy đủ để thực hiện các hoạt động nghề nghiệp sau đây:

- Thực hiện hoạt động xây dựng pháp luật: soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật;

- Thực hiện hoạt động áp dụng pháp luật: lập luận và ban hành các quyết định thuộc trách nhiệm của mình, cũng như t thực hiện các hành vi liên quan đến việc thực hiện các quy phạm pháp luật; xây dựng các tài liệu pháp lý;

- Thực hiện hoạt động bảo vệ pháp luật: bảo đảm pháp chế, trật tự pháp luật, an ninh của cá nhân, xã hội và nhà nước; bảo vệ trật tự pháp luật; bảo vệ sở hữu cá nhân, nhà nước, cộng đồng và các hình thức sở hữu khác; phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện và làm sáng tỏ các hành vi vi phạm pháp luật; bảo vệ các quyền và lợi ích họp pháp của công dân và pháp nhân;

- Thực hiện hoạt động tham mưu, tư vâh, trợ giúp, thẩm định pháp luật: tham mưu về pháp luật; tư vâh pháp luật; trợ giúp pháp lý; thẩm định pháp luật;

- Thực hiện hoạt động tổ chức quản lý: thực hiện các chức năng tổ chức quản lý;

- Thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học: thực hiện các nghiên cứu khoa học về những vấn đề pháp luật; tham gia nghiên cứu khoa học phù hợp với nghề nghiệp chuyên môn của mình;

- Thực hiện hoạt động giáo dục và đào tạo: giảng dạy các môn học pháp luật; thực hiện giáo dục pháp luật.

Môn học Chính sách pháp luật bao gồm một nhóm rộng lớn các vấn đề của luật học, bắt đầu từ lý luận chung về nhà nước và pháp luật và kết thúc bằng các ngành luật cụ thể. Ý nghĩa cơ bản mà môn học này có được trong hệ thống hoạt động đào tạo nghề nghiệp cho các thạc sĩ, tiến sĩ luật học và thạc sĩ, tiến sĩ chính sách công thể hiện ở đó.

- Mục đích của môn học là trang bị cho học viên nhận thức đúng đắn về các khái niệm pháp lý cơ bản, các hiện tượng phong phú, đa dạng của đời sống pháp luật - nhà nước trong xã hội Việt Nam hiện nay và áp dụng những hiểu biết về hệ thống pháp luật nước ta trong khi họ thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm thuộc chức vụ của mình. Môn học chính sách pháp luật cùng với các môn học khác được giảng dạy theo chương trình đào tạo thạc sĩ luật học và thạc sĩ chính sách công tạo thành một tổng thê’ các khoa học cho phép hình thành nên một họp phần hiểu biết cơ bản, năng lực, kỹ năng nghề nghiệp của người tốt nghiệp các ngành thạc sĩ, tiến sĩ nói trên.

Môn học này được xây dựng trên cơ sở cân nhắc việc tổ chức giảng dạy cần phải được tiến hành để đồng thời giải quyết được cả các nhiệm vụ lý luận lẫn các nhiệm vụ thực tiễn trong điều kiện xã hội Việt Nam đang được đổi mới toàn diện, họp tác quốc tế sâu và rộng, tham gia tích cực vào quá trình toàn cầu hóa.

3. Kết quả cần đạt được của môn học

Sau khi học môn học Chính sách pháp luật, khi tiến hành hoạt động nghề nghiệp của mình học viên cần:

a. Có hiểu biết về các các lĩnh vực (nội dung) dưới đây:

- Các giai đoạn cơ bản của lịch sử nghiên cứu phạm trù chính sách pháp luật, các tiền đề, điều kiện lịch sử, xã hội quyết định sự quan tâm nghiên cứu khoa học chính sách công từ thế kỷ XIX đến nay;

- Chính sách pháp luật là một khoa học, sự hình thành và phát triển của khoa học chính sách pháp luật, cơ cấu của khoa học chính sách pháp luật, nghề chính sách pháp luật, chính sách pháp luật vói tư cách là một môn học;

- Mối tương quan của hệ tư tưởng pháp luật quốc gia, ý thức pháp luật, đạo đức, pháp luật và chính sách pháp luật;

- Nội dung khái niệm "chính sách pháp luật", các dấu hiệu chung và các dấu hiệu riêng của nó;

- Mối tương quan của các khái niệm và các hiện tượng "chính sách pháp luật" và "đời sống pháp luật", bản chất của đời sống pháp luật với tư cách là khách thể của chính sách pháp luật;

- Nội dung khái niệm hệ thống chính sách pháp luật, các thành tố của hệ thống chính sách pháp luật;

- Những nền tảng lý luận chung về mục tiêu trong chính sách, những khía cạnh lý luận và thực tiễn của nhận thức về các mục tiêu, các ưu tiên và các nguyên tắc của chính sách pháp luật Việt Nam;

- Những nền tảng lý luận chung về các phương tiện trong chính sách, các loại phương tiện được quyền lực chính trị sử dụng, hệ thống các phương tiện xây dựng và thực hiện chính sách pháp luật;

- Các hình thức thực hiện chính sách pháp luật ở Việt Nam, các định hướng cơ bản mà từ đó chính sách pháp luật được hình thành: định hướng lý luận (học thuyết) pháp luật, định hướng xây dựng pháp luật, định hướng áp dụng pháp luật, định hướng giải thích pháp luật, định hướng giáo dục và đào tạo pháp luật;

- Khái niệm, các dấu hiệu, thực trạng và các phương thức tối ưu hóa các loại chính sách pháp luật ngành và liên ngành: chính sách pháp luật hiến pháp, chính sách hình sự, chính sách pháp luật dân sự, chính sách pháp luật hành chính, chính sách pháp luật tài chính, chính sách pháp luật môi trường, chính sách pháp luật thông tin, chính sách pháp luật tố tụng, chính sách pháp luật họp đồng, chính sách pháp luật tư v.v..;

- Những nội dung cơ bản của các quan niệm về các cấp độ của chính sách pháp luật: chính sách pháp luật quốc tế, chính sách pháp luật khu vực, chính sách pháp luật quốc gia, chính sách pháp luật địa phương;

- Những nền tảng lý luận và thực tiễn của việc xây dựng chính sách pháp luật của các cơ quan quyền lực nhà nước ở Việt Nam (quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp) và của các loại chính sách pháp luật khác: chính sách pháp luật điều chỉnh, chính sách pháp luật bảo vệ, chính sách pháp luật về quyền con người;

b. Có khả năng, năng lực, kỹ năng

c. Có hiểu biết, khả năng, năng lực, kỹ năng văn hóa chung dưới đây:

- Nhận thức được một cách sâu sắc ý nghĩa xã hội của nghề nghiệp trong tưong lai của mình;

- Thái độ tôn trọng Hiến pháp và các đạo luật;

- Trình độ ý thức pháp luật nghề nghiệp đầy đủ;

- Thái độ, biểu hiện không khoan nhượng với hành vi tham nhũng.

d. Có hiểu biết, khả năng, năng lực, kỹ năng nghề nghiệp sau đây:

- Trong hoạt động bảo vệ pháp luật: khả năng, năng lực, kỹ năng phát hiện, làm sáng tỏ, đánh giá và ngăn chặn hành vi tham nhũng;

- Trong hoạt động nghiên cứu khoa học: khả năng, năng lực, kỹ năng thực hiện một cách chuyên nghiệp các nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực chính sách pháp luật và trong lĩnh vực pháp luật;

- Trong hoạt động giáo dục và đào tạo: khả năng, năng lực, kỹ năng thực hiện có chất lượng, hiệu quả hoạt động giáo dục và đào tạo pháp luật.

4. Phân tích kết quả cần đạt được môn học về khả năng, năng lực, kỹ năng

- Vận dụng một cách sáng tạo những hiểu biết lý luận vào hoạt động thực tiễn nghề nghiệp của mình, biết bảo vệ có lập luận khoa học và thực tiễn các quyết định đã được thông qua, kiên định đưa các quyết định đó vào đời sống, chịu trách nhiệm về các quyết định đó;

- Làm chủ các thông tin về các mục tiêu, các ưu tiên, các chức năng của chính sách pháp luật, về các phương tiện để đạt được các mục tiêu đã được đưa ra; lựa chọn trong rất nhiều phương tiện các phương tiện có khả năng lớn nhất bảo đảm cho việc đạt được các mục tiêu;

- Làm sáng tỏ và xây dựng một cách có tính hướng đích các lợi ích của cá nhân, của xã hội và của nhà nước, xác định các loại lợi ích quan trọng nhất đối với cuộc sống, xếp loại chúng theo thứ tự ưu tiên và thiết lập được một cơ cấu cân bằng các lợi ích giữa mọi công dân, các tầng lóp xã hội cụ thê’ và của xã hội;

- Vận dụng những hiểu biết khoa học về các hình thức thực hiện chính sách pháp luật, các định hướng cơ bản của việc thực hiện chính sách pháp luật để từ đó xác định ở đâu hình thức chính sách pháp luật cụ thể nào có thể được thực hiện, được đưa vào đời sống pháp luật;

- Sử dụng các nguyên tắc của chính sách pháp luật với tư cách là các định hướng chỉ đạo để thực hiện có chất lượng hoạt động có hệ thống, nhất quán, được lập luận về mặt khoa học trong việc nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật các quan hệ xã hội;

- Trên cơ sở có được những hiểu biết vững chắc về các loại chánh sách pháp luật, về vị trí và vai trò của từng loại trong hệ thống chung của chúng, trong hoàn cảnh cụ thể sử dụng tốt nhất loại chính sách pháp luật này hay loại chính sách pháp luật khác;

- Chỉnh sửa hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật nói chung, các bộ phận cụ thể của nó nói riêng; làm sáng tỏ "các nút thắt", các mâu thuẫn, các xung đột, các dư thừa, các trùng lặp trong điều chỉnh pháp luật; xác định mức độ hiệu quả tác động của các quy phạm pháp luật với mục đích hoàn thiện và hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật;

- Làm sáng tỏ các xu hướng phát triển của hệ thống pháp luật nước ta, phân tích và tổng hợp kinh nghiệm nước ngoài về xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và đưa ra khuyến nghị về việc sử dụng kinh nghiệm nước ngoài vào hoạt động xây dựng pháp luật ở nước ta;

- Phát hiện các mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương và địa phương, đưa ra các kiến nghị khắc phục các mâu thuẫn đó, bảo đảm sự phù hợp của các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành vói Hiến pháp năm 2013 của nước ta;

- Nâng cao hiệu quả của đạo luật và thực tiễn thực hiện đạo luật trong cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước ở trung ương và ở địa phương, trong điều chỉnh các quan hệ xã hội;

- Xác định được hệ thống các ưu tiên cơ bản của Nhà nước trong lĩnh vực thực hiện pháp luật, các mục tiêu cơ bản và các nguyên tắc của hoạt động áp dụng pháp luật, sử dụng các tiêu chuẩn được lập luận về mặt khoa học để đánh giá hiệu quả của pháp luật;

- Củng cố chế độ pháp chế trong đất nước, bảo đảm việc tuân thủ thường xuyên Hiến pháp và các đạo luật của tất cả các chủ thể của quan hệ pháp luật, tạo ra những bảo đảm về tổ chức, chính trị cần thiết cho việc thực hiện các quyền và tự do của cá nhân;

- Vận dụng các nguyên tắc cơ bản của sự tương tác lẫn nhau giữa cá nhân, xã hội và nhà nước trong lĩnh vực thực hiện pháp luật; thúc đẩy sự phát triển các giao tiếp pháp luật, bảo đảm tính công khai, tính được tiếp cận thông tín về những đổi mới pháp luật, các mục tiêu của những đổi mói đó, các kết quả đạt được trong lĩnh vực thực hiện pháp luật;

- Thúc đẩy, củng cố sự hình thành tinh thần, thái độ tôn trọng Hiến pháp và đạo luật trong xã hội và khắc phục chủ nghĩa hư vô pháp luật, nâng cao trình độ văn hóa pháp luật của công dân, đưa tư tưởng tự nguyện, tự giác thực hiện các nghĩa vụ và tuân thủ pháp luật vào ý thức xã hội;

- Soạn thảo các văn bản dưới luật, các văn bản hướng dẫn thi hành luật, áp dụng các cơ chế bảo đảm việc áp dụng các quy phạm pháp luật hiện hành có hiệu quả;

5. Chương trình môn học chính sách pháp luật

Chương trình môn học chính sách pháp luật bao gồm 4 phần sau đây:

- Phần I: Những vấn đề chung về chính sách pháp luật. Phần này làm sáng tỏ những chủ đề: lịch sử nghiên cứu chính sách pháp luật; chính sách pháp luật là một khoa học; hệ tư tưởng pháp luật quốc gia và chính sách pháp luật.

- Phần II: Những vấn đề lý luận về chính sách pháp luật. Phần này nghiên cứu những chủ đề: khái niệm và các dấu hiệu của chính sách pháp luật; hệ thống chính sách pháp luật; đời sống pháp luật - khách thể của chính sách pháp luật; các mục tiêu, các ưu tiên, các nguyên tắc của chính sách pháp luật Việt Nam; các phương tiện của chính sách pháp luật.

- Phần III: Các hình thức thực hiện chính sách pháp luật. Phần này luận giải những chủ đề: hình thức học thuyết của thực hiện chính sách pháp luật; chính sách xây dựng pháp luật là một loại chánh sách pháp luật và là một hình thức thực hiện chính sách pháp luật; chính sách áp dụng pháp luật; chính sách giải thích pháp luật; chính sách giáo dục và đào tạo pháp luật.

- Phần IV: Các loại và các cấp độ của chính sách pháp luật. Phần này tìm hiểu những chủ đề: các loại chính sách pháp luật chuyên ngành và liên ngành; các cấp độ của chính sách pháp luật, chính sách pháp luật của chủ thể khác và những loại chính sách pháp luật khác.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).