Tranh chấp đầu tư quốc tế giữa nhà nước, chính phủ, cơ quan nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài phát sinh ngày càng phổ biến trong tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, đặc biệt khi hoạt động đầu tư nước ngoài ngày càng phát triển cả về quy mô, số lượng, phạm vi và tính chất.

Thực tiến giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế trên cơ sở hợp đồng đầu tư quốc tế, trong thực tiễn thường gặp phải những vướng mắc sau đây:

 

1. Sự thay đổi pháp luật của quốc gia nhận đẩu tư

Hợp đồng đầu tư quốc tế nếu có điều khoản chọn luật áp dụng là luật nưốc ngoài hoặc điều khoản về ổn định pháp luật thì thường không bị ảnh hưởng bởi luật của nước nhận đầu tư. Trong hợp đồng đầu tư quốc tế, việc quy định điều khoản ổn định để khẳng định luật mới được ban hành sau khi hợp đồng có hiệu lực sẽ không ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng. Vấn đề nảy sinh ở đây là liệu điều khoản ổn định có giá trị bắt buộc đối với nước nhận đầu tư không khi mà không có cơ quan xét xử quốc tế nào quy định về việc điều khoản ổn định là có hiệu lực hay không, chẳng hạn:

- Trong vụ LETCO kiện Liberia1, Tòa án đã giải thích: “Điều khoản này thưòng dẫn chiếu đến điều khoản ổn định, thường được thấy trong các hợp đồng phát triển dài hạn và... dùng để tránh các hành vi “độc đoán” của bên chính phủ nước nhận đầu tư. Điều khoản phải được tôn trọng, đặc biệt trong hợp đồng loại này. Trái lại, chính phủ nước nhận đầu tư có thể dễ dàng tránh nghĩa vụ hợp đồng bằng việc thay đổi pháp luật”.

- Hay vụ Amoca International Finance kiện Iran, đa số thành viên Ban Hội thẩm cho rằng điều khoản ổn định điển hình không được hiểu như sự từ bỏ quyền miễn trừ tư pháp của nước nhận đầu tư.

Không vụ nào ở trên đã áp dụng điều khoản bao trùm trong BIT mà được xây dựng để bảo vệ nhà đầu tư nước ngoài chống lại sự vi phạm hợp đồng của bên còn lại. Điều đó khẳng định rằng, một quốc gia, theo quan điểm của cơ quan xét xử quốc tế, có quyền bắt buộc chính nó tôn trọng nguyên tắc pacta sunt servanda cũng như nguyên tắc thiện chí và tránh sự ràng buộc của hợp đồng.

Cơ quan xét xử quốc tế có các quan điểm khác nhau về việc liệu sự vi phạm điều khoản ổn định sẽ dẫn đến việc phải thực hiện đúng hợp đồng hay bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại hay không.

 

2. Giải thích và áp dụng điều khoản bao trùm không thông nhất

Điều khoản bao trùm thường được tìm thấy ở cuối một số điều ước quốc tế về đầu tư, trong đó quy định rằng các điều khoản và đặc quyền được các bên thỏa thuận trong hợp đồng đầu tư sẽ được điều ước quốc tế về đầu tư bảo vệ. Điều khoản này rất quan trọng và có tác dụng gần giống như điều khoản ổn định, nhằm duy trì các các cam kết của nước nhận đầu tư dành cho nhà đầu tư nước ngoài tại thời điểm ký kết hợp đồng và không để nó bị ảnh hưởng bởi các quy định pháp luật trong nước được ban hành sau đó.

Tuy nhiên, thực tiễn giải thích và áp dụng điều khoản bao trùm đã gây nhiều tranh cãi vì một số hội đồng trọng tài đã đi tới các kết luận trái ngược nhau. Hai vụ việc thưòng được lấy làm ví dụ minh họa là vụ SGS kiện Pakixtan và SGS kiện Philíppin.

- Vụ SGS kiện Pakixtan là trường hợp đầu tiên trọng tài ICSID ra phán quyết về hiệu lực của điều khoản bao trùm. Năm 1994, SGS, một công ty mang quốc tịch Thụy Sĩ, khỏi kiện Pakixtan ra Trọng tài ICSID trên cơ sỏ BIT giữa Thụy Sĩ và Pakistan vì tranh chấp liên quan đến hợp đồng đầu tư giữa SGS và Pakixtan. Liên quan đến điều khoản bao trùm, Điều 11 BIT quy định: “Các bên ký kết sẽ liên tục bảo đảm tuân thủ các nghĩa vụ đã cam kết đốỉ vối các khoản đầu tư của các nhà đầu tư của Bên ký kết kia”.

Điều này có khả năng đưa tất cả các hình thức cam kết hành chính, quy định về hợp đồng trong nước của Pakixtan với các nhà đầu tư mang quốc tịch Thụy Sĩ đầu tư vào Pakixtan đệ bao trùm bảo hộ của Hiệp định giữa hai nước này, theo lập luận của SGS.

Tuy nhiên, Hội đồng trọng tài ICSID đã bác bỏ lập luận của nguyên đơn là điều khoản này trao cho nhà đầu tư quyền đưa tranh chấp phát sinh trên cơ sở hợp đồng ra giải quyết theo cơ chế của BIT (quyền khiếu kiện ra Trọng tài ICSID), dù trong hợp đồng đầu tư đã có sẵn điều khoản giải quyết tranh chấp khác. Hội đồng trọng tài cho rằng, cách diễn giải Điều 11 của SGS là quá rộng và tự động; không đủ tiêu chuẩn và có khả năng tác động rất nặng nề lên một bên ký kết hiệp định về đầu tư. Cho nên cần phải có bằng chứng rõ ràng cho thấy các bên ký kết BIT có ý định thỏa thuận Điều 11 có hiệu lực như cách SGS diễn giải. Tuy nhiên, SGS không thể đưa ra bằng chứng vì vậy lập luận về điều khoản bao trùm theo chiều hướng nâng các cam kết trong hợp đồng đầu tư giữa Pakixtan với SGS lên tầm hiệp định đã bị bác bỏ.

- Đối với vụ SGS kiện Philippin, Hội đồng trọng tài đi tới kết luận trái ngược với vụ việc trên. Trong vụ này, SGS kiện Philíppĩn trên cơ sở BIT giữ Philíppin và Thụy Sĩ vì các tranh chấp liên quan đến hợp đồng đầu tư giữa SGS và Philíppin. Nội dung điều khoản bao trùm quy định tại Điều X(2) BIT quy định:

“Mỗi Bên ký kết sẽ tuân thủ bất kỳ nghĩa vụ nào mà Bên đó đã cam kết đối với các khoản đầu tư cụ thể trong lãnh thổ nước mình thực hiện bởi các nhà đầu tư của Bên ký kết kia”.

Trong vụ việc này, Hội đồng trọng tài đồng tình với quan điểm của nguyên đơn và cho rằng nhà nước của nước nhận đầu tư có nghĩa vụ tuân thủ bất kỳ nghĩa vụ pháp lý nào nước này đã cam kết đối với các khoản đầu tư được bảo hộ bởi BIT. Hội đồng trọng tài vụ SGS kiện Philíppin đồng thời cho rằng cách giải thích về điều khoản bao trùm như trong phán quyết vụ SGS kiện Pakistan là rất hạn hẹp.

 

3. Tranh chấp “công” và tài phán “tư"

Rõ ràng là định nghĩa của thuật ngữ “thương mại” gồm có cả “đầu tư”. Do đó, không chỉ UNCITRAL mà còn Trọng tài ICSID có thể được đặt vào danh mục “trọng tài thương mại quốc tế".

Hơn nữa, Quy tắc trọng tài UNCITRAL hay luật hoặc điều lệ của các trung tâm trọng tài về đầu tư khác được xây dựng để điều chỉnh các tranh chấp liên quan đến tư pháp quốc tế giữa các bên trong hợp đồng. Tuy nhiên, mặc dù những trung tâm trọng tài về đầu tư như ICSID thường được coi như trọng tài thương mại quốc tế tư (giải quyết các tranh chấp liên quan đến tư pháp quốc tế), nhưng hầu hết các tranh chấp đầu tư gần đây lại có tác động đến những tranh chấp “công” (công pháp quốc tế).

Một trung tâm trọng tài quốc tế về đầu tư thường được tập hợp bởi nhiều trọng tài viên với trình độ pháp lý khác nhau, có kinh nghiệm. Đôi khi các trọng tài hoặc trung tâm trọng tài chấp nhận xét xử các tranh chấp vốn dĩ liên quan đến công pháp quốc tế và đưa ra những phán quyết có hiệu lực giữa các bên tranh chấp. Phán quyết đó đồng thời còn hạn chế quyền hợp pháp của các quốc gia như ban hành pháp luật, khi các quốc gia đó phải thực hiện chính sách công của mình theo các nghĩa vụ đã ký kết trong điều ước quốc tế. Thêm vào đó, án lệ trên của các cơ quan tài phán đầu tư còn có thể trở thành nguồn luật chính thống cho các lĩnh vực luật tư ở các quốc gia theo hệ thống thông luật.

 

4. Vướng mắc về phạm vi tranh chấp ở các cơ quan tài phán đầu tư khác nhau

Quá trình quốc tế hóa của các tranh chấp liên quan đến hợp đồng đầu tư quốc tế, các cơ quan giải quyết tranh chấp (gồm cả quốc gia và quốc tế) có thể viện dẫn đến nhiều hiệp định, án lệ và cơ chế giải quyết tranh chấp khác nhau. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài dựa trên cơ sở hợp đồng đầu tư quốc tế và các hiệp định đầu tư có thể dẫn đến "nhân đôi vụ kiện” giữa các bên.

Có rất nhiều trường hợp, Chính phủ nước nhận đầu tư đã phải biện hộ trước hai vụ kiện trọng tài nảy sinh từ cùng một tranh chấp. Bởi vì, vấn đề tranh chấp được quy định ở hai BIT về trọng tài khác nhau. Chẳng hạn, trong vụ CME/Lauder kiện Cộng hòa Séc, Ronald Lauder kiện Cộng hòa Séc tại Trọng tài Luân Đôn theo BIT US-Séc. Nguyên đơn cũng cáo buộc vì sự rút lại giấy phép sản xuất tivi của công ty do nguyên đơn sở hữu là Trung tâm truyền thông châu Âu (CME), Chính phủ Séc đã vi phạm BIT Séc-Hà Lan. Nhưng CME được sáp nhập ở Hà Lan đã tự tiến hành kiện Chính phủ Séc ỏ Trọng tài Xtốckhôm.

Cả hai trọng tài của hai vụ kiện này đều có phán quyết rằng Chính phủ Séc đã vi phạm BIT, nhưng khác nhau ở mức phạt bồi thường thiệt hại. Trong khi Trọng tài Luân Đôn phán quyết Chính phủ Séc không phải bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn (sự vi phạm này đã đi quá xa so với nguyên nhân của thiệt hại), thì Trọng tài Xtốckhôm lại phán quyết Chính phủ Séc phải bồi thường 350 triệu USD cho CME vì “đánh giá về môi trường công bằng của công ty đầu tư vào Séc”.

Số lượng các vụ tranh chấp liên quan đến đối xử với nhà đầu tư nước ngoài ngày càng táng, một phần do các trọng tài quốc tế khác nhau tuân theo BIT hay FTA, như NAFTA hay các RTA và IIA.

 

5. Quyền ban hành pháp luật của nước nhận đầu tư và nghĩa vụ bảo hộ theo hợp đồng đầu tư quốc tế

Các hợp đồng đầu tư quốc tế, đặc biệt là các hợp đồng liên quan đến các dự án cơ sở hạ tầng, thường quy định mức độ bảo hộ dành cho đầu tư nước ngoài cao hơn so với các hợp đồng thương mại thông thường bằng điều khoản ổn định.

Điều khoản ổn định không chỉ giới hạn chủ quyền của các quốc gia mà còn gây cản trở cho việc thực hiện các điều ưốc về quyền con ngưòi và môi trường được ký kết vì lợi ích lớn hơn của cả thế giới.

Theo các hợp đồng đầu tư quốc tế, các nước nhận đầu tư thường chấp nhận chủ quyền bị giới hạn và cam kết không ban hành luật mới hay chấp nhận các nghĩa vụ mối của các điều ước quốc tế có thể ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài. Các hợp đồng này quy định rằng, pháp luật hiện hành tại thời điểm các nhà đầu tư nước ngoài quyết định đầu tư vào nước sỏ tại sẽ được áp dụng cho họ và các luật đó sẽ không bị thay đổi mà gây tổn hại tới họ.

Trong trường hợp những thay đổi trong pháp luật gây bất lợi cho nhà đầu tư nước ngoài, nước nhận đầu tư sẽ có nghĩa vụ phải bồi thường. Các quy định này ngán cản các quốc gia thực hiện các biện pháp pháp lý và các điều khoản trong hợp đồng đầu tư sẽ có hiệu lực cao hơn quyền lực của quốc hội hoặc bất kỳ cơ quan nào khác của nước nhận đầu tư trong trường hợp các biện pháp pháp lý cản trở hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài.

Mặc dù các điều khoản trong hợp đồng đầu tư có thể xung đột với các nguyên tắc khác của luật quốc tế, các cơ quan giải quyết tranh chấp thương mại hoặc đầu tư quốc tế rất ít khi lưu ý tới thực tế xung đột luật này. Một số nguyên tắc chung của luật quốc tế, các nguyên tắc jus cogens, và cấc nguyên tắc trong Hiến chương Liên hợp quốc theo Điều 103, có hiệu lực cao hơn bất kỳ điều khoản nào trong hợp đồng đầu tư quốc tế mà mâu thuẫn với các nguyên tắc đó.

Nhưng các cơ chế xét xử này chỉ tập trung vào các lĩnh vực đầu tư quốc tế và thương mại quốc tế mà chưa quan tâm đầy đủ đến các nguyên tắc xung đột khác của luật quốc tế trong quá trình giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia nhận đầu tư.

Trong vụ Enron kiện Áchentina, Hội đồng trọng tài ICSID ra phán quyết yêu cầu Áchentina phải trả 106 triệu đô la Mỹ do vi phạm nghĩa vụ đối xử công bằng và thỏa đáng trong BIT giữa Hoa Kỳ và Áchentina, theo đó, Áchentina có nghĩa vụ phải duy trì khung pháp lý ổn định cho các nhà đầu tư nước ngoài và nguyên tắc đôì xử công bằng và thỏa đáng có tác dụng bảo đảm cho các kỳ vọng của các nhà đầu tư nước ngoài tại thời điểm quyết định đầu tư. Hội đồng trọng tài trích dẫn phán quyết của vụ LG&E kiện Áchentina, theo đó, yếu tố quan trọng trong việc đôì xử công bằng và thỏa đáng là phải tạo ra một khuôn khổ ổn định cho đầu tư. Hội đồng trọng tài kết luận rằng các giải thích này được coi là một tiêu chuẩn mới về đối xử công bằng và thỏa đáng trong luật quốc tế.

 

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).