Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, tôi muốn biết về pháp luật, quy tắc pháp lý sử dụng trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế và sự vận hành của quá trình giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế?

Cảm ơn!

Trả lời:

 

1. Tranh chấp đầu tư quốc tế

Theo Khoản 1 Điều 2 Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg ngày 14/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế phối hợp trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, theo Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg đã nêu rõ:

“Tranh chấp đầu tư quốc tế theo Quy chế này là tranh chấp phát sinh từ việc Nhà đầu tư nước ngoài kiện Chính phủ, Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi chung là Chính phủ Việt Nam) hoặc cơ quan nhà nước, tổ chức được cơ quan nhà nước ủy quyền quản lý nhà nước (sau đây gọi chung là cơ quan nhà nước) dựa trên cơ sở:

- Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư hoặc hiệp định thương mại hoặc điều ước quốc tế khác có quy định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư mà Việt Nam là thành viên (sau đây gọi chung là hiệp định bảo hộ đầu tư), trong đó có quy định về việc giải quyết tranh chấp giữa Nhà đầu tư nưốc ngoài và Chính phủ Việt Nam tại trọng tài quốc tế hay cơ quan tài phán nước ngoài có thẩm quyền; hoặc

- Hợp đồng, thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam hoặc cơ quan nhà nưốc Việt Nam và Nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có quy định cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng, thỏa thuận này là trọng tài quốc tế hoặc cơ quan tài phán nước ngoài có thẩm quyền”.

Như vậy, tranh chấp đầu tư quốc tế có thể được nhìn nhận theo nghĩa rộng hoặc hẹp.

- Ở nghĩa rộng, tranh chấp đầu tư quốc tế tương đối đa dạng, bao gồm những tranh chấp giữa các chủ thể liên quan (nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân) phát sinh trực tiếp từ việc thiết lập, thực hiện, quản lý đầu tư xuyên biên giới quốc gia;

- Ở nghĩa hẹp, tranh chấp đầu tư quốc tế được hiểu là tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước. Tuy nhiên, theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp thì tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước vẫn được hiểu là tranh chấp liên quan hoạt động đầu tư giữa nhà nước nhận đầu tư với nhà đầu tư là cá nhân, pháp nhân đến từ quốc gia khác (nhà đầu tư nước ngoài) phát sinh trên cơ sở điều ước quốc tế, thỏa thuận/hợp đồng đầu tư quốc tế hoặc pháp luật của quốc gia nhận đầu tư.

Trong phạm vi này tranh chấp đầu tư quốc tế được giới hạn ở tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nước và việc giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế là giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nước (Investor - State Dispute Settlement - ISDS).

 

2. Pháp luật, quy tắc pháp lý sử dụng trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế

Thứ nhất, pháp luật quốc tế điều chỉnh quyền, nghĩa vụ của chủ thể tham gia giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nước (Investor - State Dispute Settlement - ISDS) cũng như xác định trình tự (thủ tục) giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nước (Investor - State Dispute Settlement - ISDS), bao gồm: điều ước quốc tế về đầu tư; điểu ước quốc tế chuyên biệt về giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nước (Investor - State Dispute Settlement - ISDS); các nguyên tắc, tập quán, án lệ quốc tế; các học thuyết, tư tưởng pháp lý được quốc tế thừa nhận rộng rãi;

Thứ hai, pháp luật của quốc gia cũng được thừa nhận là quy tắc điều chỉnh giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nước (Investor - State Dispute Settlement - ISDS) nếu điều ước quốc tế về đầu tư liên quan đến vụ việc giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nước (Investor - State Dispute Settlement - ISDS) cụ thể ghi nhận việc này hoặc giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nước (Investor - State Dispute Settlement - ISDS) được thực hiện ở thiết chế giải quyết tranh chấp của một quốc gia nhận đầu tư hoặc một quốc gia khác;

Thứ ba, các quy tắc tố tụng trọng tài được áp dụng cho vụ việc tranh chấp. Các quy tắc này có thể là quy tắc trọng tài trong nước hoặc quốc tế.

 

3. Điều ước quốc tế về đầu tư

Theo quy định hiện hành tại Khoản 8 Điều 2 Nghị định 118/2015/NĐ-CP thì điều ước quốc tế về đầu tư là điều ước mà Nhà nước hoặc Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập trong đó quy định quyền và nghĩa vụ của Nhà nước hoặc Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với hoạt động đầu tư của nhà đầu tư thuộc quốc gia hoặc vùng lãnh thổ là thành viên của điều ước đó, gồm:

a) Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ký ngày 07 tháng 11 năm 2006;

b) Các hiệp định song phương về khuyến khích và bảo hộ đầu tư;

c) Các hiệp định thương mại tự do và các thỏa thuận hội nhập kinh tế khu vực khác;

d) Các điều ước quốc tế khác quy định quyền và nghĩa vụ của Nhà nước hoặc Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam liên quan đến hoạt động đầu tư.

Khái niệm điều ước quốc tế về đầu tư được định nghĩa và quy định tại Nghị định 118/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật đầu tư.

=> Vậy điều ước quốc tế về đầu tư là điều ước mà Nhà nước hoặc Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập trong đó quy định quyền và nghĩa vụ của Nhà nước hoặc Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với hoạt động đầu tư của nhà đầu tư thuộc quốc gia hoặc vùng lãnh thổ là thành viên của điều ước đó, gồm:

- Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ký ngày 07 tháng 11 năm 2006;

- Các hiệp định song phương về khuyến khích và bảo hộ đầu tư;

- Các hiệp định thương mại tự do và các thỏa thuận hội nhập kinh tế khu vực khác;

- Các điều ước quốc tế khác quy định quyền và nghĩa vụ của Nhà nước hoặc Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam liên quan đến hoạt động đầu tư.

 

4. Vận hành của quá trình giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế

Việc vận hành của quá trình giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nước (Investor - State Dispute Settlement - ISDS) được bắt đầu khi nhà đầu tư nưốc ngoài thông báo ý định khởi kiện và kết thúc khi tranh chấp được giải quyết xong hoặc bị ngưng. Quy trình vận hành của giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nước (Investor - State Dispute Settlement - ISDS) được khởi động từ khi nhà đầu tư thông báo ý định khởi kiện, ở giai đoạn này (thông thường là từ 03-06 tháng), việc giải quyết tranh chấp được thực hiện thông qua tham vấn, thương lượng trực tiếp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nưóc dựa trên pháp luật của nước nhận đầu tư và điều ước quốc tế về đầu tư liên quan để cố gắng giải quyết dứt điểm vụ việc.

Trường hợp việc tham vấn, thương lượng không đạt kết quả, nhà đầu tư nước ngoài sẽ khởi kiện giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nước (Investor - State Dispute Settlement - ISDS) ra thiết chế giải quyết tranh chấp. Giai đoạn này bắt đầu khởi động khi nhà đầu tư nước ngoài có thông báo khởi kiện gửi đến nhà nưốc nhận đầu tư.

Theo đó, giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nước (Investor - State Dispute Settlement - ISDS) vận hành tùy thuộc vào việc nhà đầu tư nước ngoài khỏi kiện nhà nước tại thiết chế giải quyết tranh chấp nào. Nếu nhà đầu tư khởi kiện tại thiết chế giải quyết tranh chấp trong nước của nưồc nhận đầu tư, pháp luật và quy tắc tố tụng của nước nhận đầu tư, điều ưốc quốc tế về đầu tư liên quan sẽ được áp dụng để thành lập cơ quan xét xử (hội đồng xét xử) và giải quyết vụ việc.

Nếu nhà đầu tư đưa tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài quốc tế, quy tắc trọng tài được lựa chọn cho vụ việc sẽ áp dụng trong việc thành lập hội đồng trọng tài và pháp luật nội dung áp dụng cho giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nước (Investor - State Dispute Settlement - ISDS) là điều ước quốc tế về đầu tư liên quan, pháp luật quốc tế, có thể cả pháp luật của nước nhận đầu tư, tùy thuộc vào quy định tại điều ước quốc tế về đầu tư liên quan hoặc do các bên thỏa thuận trưốc hội đồng trọng tài. Đôì với giải quyết tranh chấp tại thiết chế tài phán, giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nước (Investor - State Dispute Settlement - ISDS) kết thúc bằng việc thiết chế giải quyết tranh chấp ban hành được phán quyết giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nước (Investor - State Dispute Settlement - ISDS), thủ tục ban hành phán quyết theo quy tắc tố tụng được áp dụng cho vụ việc giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nước (Investor - State Dispute Settlement - ISDS).

 

5. Bàn về quy chế phối hợp giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế

Tranh chấp đầu tư quốc tế theo quy chế này là tranh chấp phát sinh từ việc Nhà đầu tư nước ngoài kiện Chính phủ, Nhà nước Việt Nam hoặc cơ quan nhà nước, tổ chức được cơ quan nhà nước ủy quyền quản lý nhà nước và đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg ngày 14 tháng 1 năm 2014.

Tranh chấp đầu tư quốc tế theo Quy chế này là tranh chấp phát sinh từ việc Nhà đầu tư nước ngoài kiện Chính phủ, Nhà nước Việt Nam hoặc cơ quan nhà nước, tổ chức được cơ quan nhà nước ủy quyền quản lý nhà nước.

- Cơ quan chủ trì (cơ quan bị kiện, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, cơ quan nhà nước Việt Nam chủ trì đàm phán hoặc thay mặt Chính phủ Việt Nam ký hợp đồng, thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam với Nhà đầu tư nước ngoài) và Cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm phối hợp giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế chủ động, đồng bộ, chính xác, kịp thời, hiệu quả theo quy định tại Quy chế này và quy định của pháp luật Việt Nam để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của Chính phủ Việt Nam, cơ quan nhà nước Việt Nam.

- Cơ quan chủ trì là cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận thông báo ý định khởi kiện, thông báo trọng tài hoặc thông báo tương tự của Nhà đầu tư nước ngoài về việc khởi kiện vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế tại trọng tài quốc tế hoặc cơ quan tài phán nước ngoài có thẩm quyền.

Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân không phải là Cơ quan chủ trì nếu nhận được thông báo ý định khởi kiện, thông báo trọng tài hoặc thông báo tương tự của Nhà đầu tư nước ngoài về việc khởi kiện vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế tại trọng tài quốc tế hoặc cơ quan tài phán nước ngoài có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao toàn bộ thông tin, tài liệu đã nhận trong thời hạn ba (03) ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo đó đến Cơ quan chủ trì hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp và Bộ Tư pháp (nếu không xác định được Cơ quan chủ trì).

Trong thời hạn ba (03) ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo bằng văn bản theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều này hoặc thông báo bằng văn bản từ nguồn khác, Bộ Tư pháp phải gửi văn bản kèm theo bản sao toàn bộ hồ sơ nhận được đến Cơ quan chủ trì hoặc Văn phòng Chính phủ (để trình Thủ tướng Chính phủ quyết định Cơ quan chủ trì).

Trong thời hạn năm (05) ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của Bộ Tư pháp theo quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều này, Văn phòng Chính phủ trình Thủ tướng Chính phủ quyết định phân công Cơ quan chủ trì.

Trong thời hạn ba (03) ngày làm việc sau khi Thủ tướng Chính phủ quyết định phân công Cơ quan chủ trì, Văn phòng Chính phủ gửi thông báo về quyết định phân công Cơ quan chủ trì đến Cơ quan chủ trì để thực hiện.

Quyết định quy định cụ thể về phối hợp trong giai đoạn nhà đầu tư nước ngoài khiếu nại và tham vấn; phối hợp trong giai đoạn tranh chấp đầu tư quốc tế được giải quyết tại Trọng tài quốc tế hoặc cơ quan tài phán nước ngoài có thẩm quyền; phối hợp trong giai đoạn thi hành phán quyết, quyết định giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế tại trọng tài quốc tế hoặc cơ quan tài phán nước ngoài có thẩm quyền; cơ chế tài chính phục vụ giải quyết tranh chấp quốc tế.

Tổ Công tác liên ngành được thành lập khi vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế được khởi kiện ra trọng tài quốc tế hay cơ quan tài phán nước ngoài có thẩm quyền. Tổ trưởng Tổ công tác liên ngành là lãnh đạo của Cơ quan chủ trì.

Cơ quan đại diện pháp lý cho Chính phủ trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế có nhiệm vụ hỗ trợ Cơ quan chủ trì thuê luật sư giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế cụ thể, thay mặt Chính phủ Việt Nam tham gia phiên xét xử vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế trong trường hợp cần thiết hoặc theo đề nghị của Cơ quan chủ trì.

Tùy theo tính chất phức tạp của vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế, Cơ quan chủ trì tham vấn Cơ quan đại diện pháp lý cho Chính phủ để quyết định việc lựa chọn, thuê luật sư tư vấn; phối hợp với Tổ Công tác liên ngành, Cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan và luật sư (nếu có) quyết định việc thuê chuyên gia kỹ thuật, mời nhân chứng phục vụ quá trình giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 03 tháng 3 năm 2014.

Trân trọng!