1. Giáo viên là ai?

Giáo viên là những người không chỉ hướng dẫn, giáo dục, lập kế hoạch, điều hành lớp học, thực hành và phát triển các khóa học trong chương trình giảng dạy của nhà trường, mà còn phải có người kiểm tra, giám khảo, phải là những người ra đề và chấm điểm đề thi. Họ ngày đêm làm việc công việc đó để đánh giá và nâng cao chất lượng giảng dạy đối với học sinh. Giáo viên nam thường được gọi là giáo viên và giáo viên nữ thường được gọi là cô giáo viên. Giáo viên có thể có rất nhiều ngành dạy học cho học sinh:

  • Giáo viên Mầm non Giáo viên Tiểu học (Cấp 1)
  • Giáo viên Trung học cơ sở (Cấp 2)
  • Giáo viên Trung học phổ thông (Cấp 3)
  • Giáo viên Nghệ thuật Giáo viên Thể dục
  • Giáo viên Khoa học Tự Nhiên Giáo viên
  • Giáo dục công dân Giáo viên Tiếng Anh
  • Giáo viên Lịch Sử Địa Lý
  • Giáo viên giáo dục đặc biệt

 

2. Bảng lương giáo viên Trung học cơ sở mới nhất 

Lương thấp không đủ để kiếm sống, cũng không phải là động cơ để thu hút giáo viên giỏi. Theo Tổng cục Thống kê, mức lương bình quân tháng (năm 2020) của giáo viên mầm non, phổ thông và đại học là 7,05 triệu đồng. Ở các khu công nghiệp, chênh lệch lương giữa giáo viên rất lớn. Một giáo viên mầm non mới ra trường có thu nhập khoảng 3,5 triệu đồng/tháng, trong khi một công nhân cùng lĩnh vực có thu nhập 7-8 triệu đồng/tháng. Cùng khu phố, cùng chi phí sinh hoạt, nhưng giáo viên thu nhập thấp làm một nửa công việc. Ngay cả những giáo viên giỏi có trình độ nhất định, chẳng hạn như khoa học máy tính hoặc ngoại ngữ, cũng được trả lương thấp và hoặc nộp đơn vào một trường tư thục trả lương gấp ba đến bốn lần hiện tại của họ, hoặc nhận một công việc khác, nhưng ngày càng trở nên kém hấp dẫn đối với họ. công nhân. Giá trị nghề nghiệp của giáo viên đang giảm sút. Với nhiều giáo viên, lý tưởng yêu nghề, mến trẻ và chọn nghề giáo đang phai nhạt dần. Được khuyến nghị rằng hệ thống tiền lương hoặc phúc lợi quốc gia dành cho giáo viên phản ánh các chính sách thăng tiến, đánh giá nhân viên và uy tín trong xã hội.

Theo khoản 1 Điều 7 Thông tư 03/2021/TT-BGDĐT, viên chức được bổ nhiệm vào các chức danh nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở được áp dụng bảng lương tương ứng ban hành kèm theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP, cụ thể như sau:

  • Giáo viên trung học cơ sở hạng III, mã số V.07.04.32, được áp dụng hệ số lương của viên chức loại A1, từ hệ số lương 2,34 đến hệ số lương 4,98; 
  • Giáo viên trung học cơ sở hạng II, mã số V.07.04.31, được áp dụng hệ số lương của viên chức loại A2, nhóm A2.2, từ hệ số lương 4,00 đến hệ số lương 6,38; 
  • Giáo viên trung học cơ sở hạng I, mã số V.07.04.30, được áp dụng hệ số lương của viên chức loại A2, nhóm A2.1, từ hệ số lương 4,4 đến hệ số lương 6,78.

Việc xếp lương khi bổ nhiệm vào hạng chức danh nghề nghiệp thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 1 Mục II Thông tư số 02/2007/TT-BNV ngày 25/5/2007 của Bộ Nội vụ hướng dẫn xếp lương khi nâng ngạch, chuyển ngạch, chuyển loại công chức, viên chức và theo quy định hiện hành của pháp luật. Khi thực hiện chính sách tiền lương mới, việc xếp sang lương mới thực hiện theo quy định của Chính phủ. Hiện mức lương cơ sở vẫn đang áp dụng là 1.490.000 đồng/tháng. Như vậy, bảng lương của giáo viên THCS năm 2022 như sau:

 

Giáo viên THCS hạng I:

  Hệ số lương Mức lương (Đơn vị: Đồng)
Bậc 1 4.4 6.556.600
Bậc 2 4.74 7.062.600
Bậc 3 5.08 7.569.200
Bậc 4 5.42 8.075.800
Bậc 5 5.76 8.582.400
Bậc 6 6.1 9.089.000
Bậc 7 6.44 9.595.600
Bậc 8 6.78 10.102.200

 

Giáo viên THCS hạng II:

  Hệ số lương Mức lương (Đơn vị: Đồng)
Bậc 1 4 5.960.000
Bậc 2 4.34 6.466.600
Bậc 3 4.68 6.973.200
Bậc 4 5.02 7.986.400
Bậc 5 5.36 7.986.400
Bậc 6 5.7 8.493.000
Bậc 7 6.04 8.999.600
Bậc 8 6.38 9.506.200

 

Giáo viên THCS hạng III:

  Hệ số lương Mức lương (Đơn vị: Đồng)
Bậc 1 2.34 3.486.600
Bậc 2 2.67 3.978.300
Bậc 3 3 4.470.000
Bậc 4 3.33 4.961.700
Bậc 5 3.66 5.453.400
Bậc 6 3.99 5.945.100
Bậc 7 4.32 6.436.800
Bậc 8 4.65 6.928.500
Bậc 9 4.98 7.420.200

 

Một số lưu ý về mức lương giáo viên THCS: 

  • Lĩnh vực áp dụng thang lương là giáo viên, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trường phổ thông có nhiều cấp học gồm trường trung học cơ sở, trường trung học cơ sở, cơ sở giáo dục đại học, trung tâm dạy nghề - giáo dục thường xuyên, trường kỹ thuật công lập;
  • GV THCS hạng I (theo quy định cũ, mã số V.07.04.10) nếu đạt chuẩn và được xếp là GV THCS hạng I theo quy định mới thì mức lương sẽ tăng hơn trước. Giáo viên hạng I cũ nếu không đủ thời gian giữ hạng thấp hơn liền kề (cụ thể hạng III là 9 năm, hạng II là 6 năm) thì được giữ nguyên mã số lương, lương hiện hưởng cho đến khi đủ thời gian giữ hạng thì được bổ nhiệm hạng mới. 
  • GV THCS hạng II (theo quy định cũ, mã số V.07.04.11) nếu đạt chuẩn và được xếp là GV THCS hạng II theo quy định mới thì được chuyển xếp lương từ viên chức loại A1 (2,34) sang A2.2 (4,0) nên mức lương sẽ tăng mạnh. Giáo viên hạng II cũ nếu không đủ thời gian giữ hạng thấp hơn liền kề (hạng III là 9 năm, hạng II là 6 năm) thì được giữ nguyên mã số lương, lương hiện hưởng đến khi đủ thời gian giữ hạng thì được bổ nhiệm hạng mới.
  • GV THCS hạng III (mã số V.07.04.12 theo quy định cũ) nếu đạt chuẩn và được xếp là GV THCS hạng III theo quy định mới thì mức lương sẽ tăng. Còn nếu chưa đạt chuẩn (không có Đại học) thì tiếp tục hưởng lương như hiện hành, có hệ số lương từ 2,1 - 4,89 đến khi có trình độ đại học thì chuyển xếp lương hạng III mới. 
  • Giáo viên THCS đạt trình độ và thời gian giữ hạng thấp hơn liền kề của hạng mới thì việc chuyển xếp lương hầu như không tăng, chỉ trừ hạng II cũ sang hạng II mới có trường hợp giáo viên có hệ số lương 3,33 - 3,66 (nếu đủ 9 năm giữ hạng II, III cũ) có thể được bổ nhiệm xếp lương 4,0. 
  • Giáo viên mới được tuyển dụng từ ngày 20/3/2021, được bổ nhiệm giáo viên hạng III mới có hệ số lương 2,34.

Với hàng ngàn giáo viên hiện đang thiếu trên cả nước, đây là một thách thức lớn. Công tác tuyển sinh vào các trường ổn định, trường, lớp giữ nguyên. Không cần phải nói, có một sự gia tăng khu vực mỗi năm ở mỗi khu vực. Không ai khác chính là những người thầy bám cao nguyên và lặng lẽ làm việc ở đúng vị trí của mình. Ngoài ra, giáo viên còn phải chịu áp lực từ mạng xã hội. Hành vi của cô giáo ở trường và những hình phạt dành cho học sinh không tuân theo nội quy của trường cũng được phụ huynh các lớp đăng tải trên mạng xã hội. Trên thực tế, một số giáo viên rời khỏi ngành đơn giản vì họ cảm thấy tội lỗi khi đối xử gay gắt với học sinh, không cung cấp phản hồi cho phụ huynh hoặc đăng tin giả trên mạng xã hội. Có ý kiến ​​cho rằng dạy học có thể được phân loại là một nghề nguy hiểm. Nhiều giáo viên không thể chịu được áp lực và rời khỏi lớp học. Sự quan tâm chưa đúng mức đến tư cách nghề nghiệp của giáo viên, suy giảm lý tưởng nghề nghiệp, áp lực nghề nghiệp quá lớn trong nghề dạy học có thể dẫn đến khuynh hướng thích ứng tiêu cực. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáo dục và có thể tác động xấu đến giáo dục. Nguy hiểm hơn nữa là xu hướng luân chuyển rồi đổi hẳn công việc sẽ dẫn đến phản ứng dây chuyền, bất lợi cho cán bộ, giáo viên. Tất cả các xã hội và phương tiện truyền thông phải công nhận, đánh giá cao và tôn trọng giáo viên một cách chuyên nghiệp ở mức độ cần thiết. Sự ghi nhận cũng là một cách để thúc đẩy họ cống hiến, yêu thích và hài lòng với công việc của mình, thay đổi suy nghĩ và đối mặt với những thách thức và khó khăn mới. Có kỹ năng nhận thức đúng đắn và đối phó với những thách thức nghề nghiệp sẽ giúp giáo viên mới giảng dạy thành công trong tình hình hiện nay.

Trên đây là tư vấn về thang bảng lương giáo viên THCS. Mọi thắc mắc xin vui lòng gọi đến Tư vấn Luật Minh Khuê hotline19006162 để được tư vấn và giải đáp.