1. Giới thiệu Tòa án Châu Âu với quyền  sở hữu trí tuệ

Các nguyên tắc do Toà án châu Âu (ECJ) triển khai từ đầu những năm 1960 cho tới nay về quyền sở hữu trí tuệ đã nêu lên mối quan hệ giữa luật pháp của cộng đồng với quyền sở hữu trí tuệ.

Trong hầu hết những trường hợp về quyền sở hữu trí tuệ, phía bảo vệ lập luận rằng, việc thi hành quyền sở hữu trí tuệ trái ngược với các điều khoản cạnh tranh ghi trong Điều 85 và 86 Hiệp ước Roma. Năm 1964, Toà ECJ giải thích quan điểm và quyét định của mình trong trường hợp Grundig-Consten. Toà phân định sự khác biệt rõ ràng giữa “sự tồn tại” và “sự thực thi” quyền sở hữu trí tuệ. Trong khi khẳng định sự tồn tại tiếp diễn của quyền sở hữu trí tuệ, Toà vẫn cho rằng việc thực thi các quyền này bị giới hạn theo luật EC.

Đầu những năm 1970, Toà ECJ chuyển sự chú ý vào những điều khoản tự do di chuyển hàng hoá có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Trong trường họp Deutsche Grammophon năm 1971, lý thuyết “vấn đề đối tượng cụ thể” lần đầu tiên được thiết lập. Lý thuyết này khẳng định rằng: “Mặc dù Điều 36 cho phép cấm đoán hay giới hạn di chuyển hàng hoá nhằm minh định sự bảo hộ sở hữu công nghiệp và thương mại, song nó chỉ cho phép hạn chế tự do thương mại đến mức độ được minh định để bảo hộ quyền cấu thành đối tượng cụ thể của sự sở hữu này”

Từ khi Tòa ECJ xác định “vấn đề đối tượng cụ thể” trong mỗi trường hợp, có tính đến quyền sở hữu trí tuệ khác nhau bao hàm và những sự kiện của trường hợp đó.

Nguyên tắc của việc hết quyền theo khu vục hoặc lý thuyết của “sự đồng thuận” lần đầu tiên được triển khai ở trường hợp Grammaphon sau đó được củng cố trong trường hợp kép của Centrafarm. Cốt lõi của nguyên tắc là những người nắm quyền sở hữu trí tuệ quốc gia không thể ngăn cản việc nhập khẩu vào một Nhà nước Thành viên những sản phẩm được tiếp thị do những người có quyền hay với sự nhất trí của một Nhà nước Thành viên khác. Từ đó, nguyên tắc này được áp dụng nhất quán và được Toà ECJ sàng lọc qua rất nhiều quyết định với các trường hợp có sự kiện khác nhau.

Tuy nhiên, có vấn đề nổi cộm là liệu nguyên tắc dùng hết quyền phạm vi quốc gia có loại trừ sự áp dụng việc dùng hết quyền ở phạm vi quốc tế hay không, mà phạm vi quốc tế này lại rất thịnh hành trong lĩnh vực thương hiệu, và trong một số trường hợp về bản quyền. Gần đây. Toà ECJ qui định rằng Điều 7 trong văn bản Hướng dẫn Thương hiệu không cho phép các Nhà nước Thành viên không được bao gộp nguyên tắc dùng hết quyền phạm vi quốc tế vào Luật Thương hiệu của mình.

 

2. Sự hài hòa hóa về pháp lý 

Trong khi Toà ECJ đang triển khai luật theo từng trường hợp, EC lại đưa ra một chương trình hài hoà hóa và tăng cường quyền sở hữu trí tuệ ở các Nhà nước Thành viên để tạo thuận lợi cho thương mại.

Chính điều đó đã dẫn đến kết quả là hài hoà hoá rất đáng kể các lĩnh vực bản quyền và các quyền tương tự, thương hiệu, sơ đồ bản dẫn chi tiết, quyền về các giống cây trồng và ở một mức độ nhất định là bằng sáng chế. Cũng có những đề xuất hài hoà hoá trong kênh cung cấp thông tin liên quan đến thiết kế công nghiệp, những phát minh về công nghệ sinh học và quyền nhượng lại.

 

3. Bản quyền và các quyền liên quan trong Cộng đồng Châu Âu

Nhiều thành tựu quan trọng đã đạt được về hài hoà hoá trong lĩnh vực bản quyền, mặc dù vẫn cần có thêm cải tiến hơn nữa. Hiện nay tầm quan trọng về kinh tế của bản quyền hàng hoá và dịch vụ chiếm từ 5% đến 7% GNP của toàn cộng đồng. Những công nghệ mới sẽ thúc đẩy thị trường này tăng lên.

Theo Báo cáo Xanh của Hội đồng kết luận rằng sự bảo hộ thoả đáng và một sân chơi bình dẳng cho sự bảo hộ bản quyền là điều cốt lõi cho sự thành công của Xã hội Thông tin trong EC và những công việc quan trọng đang được tiến hành trong lĩnh vực này.

Tháng 12-1997, Hội đồng đưa ra đề nghị một Hướng dẫn nhằm tiến tới một luật chung về hài hoà hoá bản quyền và các quyền liên quan trong EC. Đề nghị đó nhằm đáp ứng nhu cầu bảo hộ đặc biệt nảy sinh trong Xã hội Thông tin, tại đó các tác phẩm có thể phân phối bằng phương tiện điện tử và số hoá.

 

4. Những ký hiệu nổi bật trong quyền sở hữu công nghiệp

Ngay từ đầu những năm 1960, người ta đã lo ngại thương hiệu có thể được sử dụng làm rào cản thương mại giữa các Nhà nước Thành viên. Ý đồ thiết lập một Thương hiệu Cộng đồng (CTM) bị thất bại, sau khi gặp những khó khăn về chính trị đối với địa điểm đặt trụ sở đăng ký và ngôn ngữ dùng tại trụ sở này. Tiếp sau, uỷ ban châu Âu thúc đẩy chương trình hài hoà hoá cho đến năm 1988, thông qua Hướng dẫn Đầu tiên của Hội đồng số 89/104 tương đương với Luật của các Nhà nước Thành viên liên quan đến Thương hiệu (Hướng dẫn Thương hiệu). Hướng dẫn này nhằm hài hoà hoá những điều khoản của luật thương hiệu quốc gia, hầu như tác động trực tiếp sự vận hành của thị trường trong nước. Mãi cho đến tháng 12-1993 mới thông qua được Qui định Thương hiệu Cộng đồng. Qui định này tạo ra một hệ thống thương hiệu trung tâm có giá trị trong khắp EC, với CTM cùng tồn tại song song với các thương hiệu quốc gia. Các điều khoản quan trọng của Qui định thường cũng là những thuật ngữ tương tự của những điều khoản tương ứng trong Hướng dẫn Thương hiệu. Các vấn đề chính trị gây chậm trễ việc thông qua Qui định CTM đã được giải quyết khi địa điểm cho trụ sở CTM được nhất trí (Alicante, Tây Ban Nha) và một hiệp định đạt tới thoả thuận sử dụng năm ngôn ngữ chính thức.

Trụ sở bắt đầu hoạt động từ ngày 1-4-1996 để tiếp nhận đơn, đến tháng 5-19997 nhận được 51.000 đơn. Với sự thông qua Qui định CTM, tình hình hài hoà hoá của EC trong lĩnh vực thương hiệu đã khá đầy đủ.

Các công việc liên quan được xúc tiến để điều tiết việc sử dụng danh định biểu thị nguồn gốc địa lý hoặc những đặc tính riêng biệt của nông sản và thực phẩm thông qua việc đăng ký.

 

5. Hoạt động phát minh trong quyền sở hữu công nghiệp

Hiện thời việc bảo hộ bằng sáng chế trong được bảo đảm bằng chế độ bằng sáng chế quốc gia và chế độ bằng sáng chế châu Âu. Chế độ này dựa trên hai Công ước quốc tế: Công ước Bằng Sáng chế châu Âu năm 1973 (EPC) và Công ước Luýchxămbua năm 1975 về Bằng Sắng chế Cộng đồng (CPC).

Tuy nhiên chỉ có EPC được mở rộng ra tất cả các nước châu Âu và có hiệu lực từ năm 1997 mới thực sự lưu hành. Công ước này có 18 Nhà nước Thành viên, nghĩa là 15 thành viên EU với Lýchtenxtainơ, Mônacô và Thuy Sĩ. Một thủ tục duy nhất được đề ra để phê chuẩn bằng sáng chế tại các Nhà nước Thành viên. Sau khi được phê chuẩn, bằng sáng chế trở thành bằng quốc gia trong những Quốc gia được chỉ định. Bất lợi chủ yếu của chế độ này là băng sáng chế phải đối mặt và/hoặc thách thức tại mỗi nước có hiệu lực. Một vấn đề khác là chi phí dịch thuật: mỗi bằng sáng chế lại phải dịch sang ngôn ngữ của nước mà bằng đó có hiệu lực. CPC không được đầy đủ các bên ký kết phê chuẩn để có thể trở thành có hiệu lực, vì lo ngại tốn phí dịch thuật cao và tính không chắc chắn về phấp lý cùng với những thu xếp về xét xử uỷ ban châu Âu bày tô sự lo ngại rằng các công ty kinh doanh trong phạm vi châu Âu không tiếp cận với chế độ duy nhất về bảo hộ bằng sâng chế, nên uỷ ban cho rằng có nhu cầu rõ rệt về một bằng sáng chế thống nhất mới của EC bao trùm toàn lãnh thổ EC, tốt hơn là ở dạng Qui định của Cộng đồng nhằm tạo thuận lợi cho việc thông qua và thực hiện.

Một số bước pháp lý cụ thể được tiến hành trong lĩnh vực bảo hộ bằng sáng chế. Qui định của Hội đồng (EEC) số 1768/92 ngày 18-6-1992 đưa ra giấy chứng nhận bổ sung cho dược phẩm (Qui định Hội đồng), kéo dài thời gian bảo hộ dược phẩm ngoài thời hạn bằng sáng chế thông thường. Sau nhiều năm soạn thảo pháp lý, Nghị viện châu Âu và Hướng dẫn của Hội đồng về bảo hộ những phát minh công nghệ sinh học được thông qua đầu năm 1998 và thực hiện tháng 7/2000.

Đề nghị về một Nghị viện châu Âu và Qui định của Hội đồng đối với Thiết kế của Cộng đồng và một đề nghị về Nghị viện châu Âu với Hướng dẫn của Hội đồng về bảo hộ pháp lý cho thiết kế đã trở thành cơ chế pháp lý trong phạm vi Cộng đồng từ năm 1993. Bản Hướng dẫn thông qua năm 1999 được thực hiện vào tháng 10/ 2001. Tuy nhiên, tương lai của đề nghị về qui định của Hội đồng không mấy sáng sủa. Tháng 12/1997, uỷ ban trình bày một đề nghị về bảo hộ những phất minh bằng hình mẫu công ích. Mục đích là nhằm hài hoà hoá các luật quốc gia trong Cộng đồng và giới thiệu một chế độ bảo hộ hình mẫu công ích chưa có ở những Nhà nước Thành viên. Đề nghị được sửa đổi và dự kiến thông qua tháng 12/1999.

 

6. Các quyền sở hữu trí tuệ khác

Các văn bản pháp lý khác về hài hoà hoá của EC trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ đều liên quan đến bảo hộ pháp lý cho các sơ đồ chi tiết của sản phẩm bán dẫn, quyền về các giống cây trồng trong EC và giấy chứng nhận bảo hộ bổ sung cho sản phẩm gióng cây trồng.

 

7. Hiệu lực của quyền sở hữu trí tuệ trong Luật pháp EC

Luật phâp EC trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ không khác với các ngành khác về hiệu lực thi hành. Nếu một điều khoản tương xứng trực tiếp có hiệu lực, thì toà án quốc gia có thể lấy đó làm căn cứ. Toà ECJ có thể theo Điều 177 qui định về dịch thuật và hiệu lực thi hành của luật, làm như vậy để nói lên mối quan hệ giữa luật EC với quyền sở hữu trí tuệ quốc gia. Ủy ban châu Âu cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường hiệu lực của quyền sở hữu trí tuệ, uỷ ban hoạt động như một cơ quan điều tra, có quyền lực thu thập những bằng chứng, dàn xếp và ra quyết định về tính tương thích của những hoạt động cam kết trong phạm vi Cộng đồng, cạnh tranh với các Điều 85 và 86 của Hiệp ước Roma. Quyền thi hành Điều 85 và 86 xuất xứ từ Qui định 17.

Vì không có qui định liên quan đến các Điều 30 -36 (các điều khoản về tự do di chuyển hàng hóa trong phạm vi EC), nên câc bên phải tìm kiếm sự điều chỉnh đối với sự xâm hại đó thông qua toà ấn quốc gia.

 

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).