1. Biển kín hay nửa kín là gì?

Điều 122 Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 quy định:

"ĐIỀU 122. Định nghĩa

Trong Công ước, “biển kín hay nửa kín” là một vịnh, một vũng hay một vùng biển do nhiều quốc gia bao bọc xung quanh và thông với một biển khác hay với đại dương qua một cửa hẹp, hoặc là hoàn toàn do chủ yếu hay các lãnh hải và các vùng đặc quyền về kinh tế của nhiều quốc gia tạo thành."

Biển kín và nửa kín nếu nằm trọn trong lãnh thổ của một quốc gia (Ví dụ: Biển Aral của Uzơbêkixtan, Biển Trắng thuộc Liên bang Nga...) thì biển đó cấu thành bộ phận của lãnh thổ quốc gia đó. Nhưng nếu bờ biển kín và nửa kín này lại thuộc hai hoặc nhiều quốc gia khác nhau và nếu giữa các quốc gia này không có một điều ước quốc tế đặc biệt về quản lí và sử dụng biển đó, thì có thể phát sinh nhiều tranh chấp pháp lí quốc tế giữa các quốc gia có cùng bờ biển. Lịch sử luật biển quốc tế cho thấy không ít giải pháp pháp lí quốc tế trong lĩnh vực này. Ví dụ, biển Caxpi, trước đây thuộc Nga và Iran, năm 1813 giữa hai nước này đã kí Hiệp định Hulistan, sau đó vào 4828 kí Hiệp định Turemanche cho phép Nga vĩnh viễn có quyển đặc biệt duy trì hạm đội của mình tại đó và chịu quyển tài phán của Nga, cho đến khi biển này vẫn thuộc hai nước. Đến năm 1935 Liên Xô và lran đã kí lại Hiệp định Matxcơva, theo đó hai _ có “UIT quyền hàng hải bình đẳng trong biển Caxpi với những hạn chế nhất định cho tàu chiến. Sau khi Liên Xô tan rã, biển Caxpi lại thuộc Nga, Tuôcmênixtan, Kazăcxtan. Azecbaijan. Biển Đen (Hắc Hải) là một trường hợp khá đặc biệt. Do biển này có ý nghĩa kinh tế, chính trị, quân sự quan trọng đối với nhiều nước nên từ lâu nó đã trở thành đối tượng tranh chấp giữa các quốc gia ven bờ. Trước khi kí hiệp định Kuchuc - Kinargin 1774, biển Đen hoàn toàn thuộc lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ, Rumani và Bungari. Ngày nay, biển Đen thuộc Nga, Ucraina, Rumani, Bungari, Thổ Nhĩ Kỳ và Gruzia. Theo Hiệp định Pari 1856, Biển Đen được tuyên bố là biển mở và tự do hàng hải cho mọi thương thuyền. Chỉ có Nga và Thổ Nhĩ Kỳ được duy trì một số tàu chiến loại nhỏ ở đây. Theo Hiệp định Berlin 1878 biển Đen được mở cho giao lưu hàng hải thương thuyền của tất cả các nước với điều kiện Thổ Nhĩ Kỳ có quyền cấm hoặc cho phép tàu chiến nước khác qua lại vô hại qua cửa hẹp Bôxpho và Dardanelbé. Trong giai đoạn hiện nay, chế độ pháp lí của Biển Đen được khẳng định trong công ước Montrial 1936, theo đó Biển Đen được mở cho giao lưu hàng hải thương thuyền của tất cả các nước với điều kiện hạn chế qua lại vô hại của tàu chiến các nước không có chung Biển Đen.

Đối với biển Bantich, theo "điều mật" của Thoả thuận năm 1800 giữa Đan Mạch, Na Uy và Nga thì biển Bantích bị tuyên bố là “biển đóng vĩnh viễn", tuy vậy, trong thời bình tất cả các nước có quyền hàng hải thương thuyền. Đến năm 1857 các nước đã kí với nhau thoả ước về biển Bantích (Thoả ước Pari), theo đó Đan Mạch buộc phải không được gây cản trở hoặc bắt giữ tàu thuyền các nước dưới bất cứ lí do nào khi các tàu thuyển đó qua lại cửa Gunede và Belta, biển Bantích được mở tự do cho mọi tàu thuyền các nước.

2. Sự hợp tác giữa các quốc gia ven biển kín hay nửa kín

Vấn đề biển kín và nửa kín đã được thảo luận tại các hội nghị quốc tế của Liên hợp quốc về luật biển. Tại hội nghị lần thứ 3 của Liên hợp quốc về luật biển (1973 - 1982), vấn để biển kín và nửa kín đã được thảo luận sôi nổi xoay quanh hai nhóm vấn đề: đó là định nghĩa và sự hợp tác giữa các quốc gia ven biển kín và nửa kín. Thông qua nhiều cuộc thương lượng, Hội nghị đã đạt được thoả hiệp về định nghĩa biển kín và nửa kín tại Điều 122 Công ước năm 1982 về luật biển như sau: “đó là một vịnh, một vũng hoặc một vùng biển do nhiều quốc gia bao bọc xung quanh và thông với một biển khác hoặc với đại dương qua một cửa hẹp, hoặc là hoàn toàn hay chủ yếu do các lãnh hải và các vùng đặc quyền về kinh tế của nhiều quốc gia tạo thành". Như vậy, định nghĩa này của Công ước năm 1982 về luật biển vừa dựa trên tiêu chuẩn địa lí, vừa kết hợp với tiêu chuẩn pháp lí về lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế để định nghĩa các loại biển đó. Rõ ràng, định nghĩa này rất rộng, người ta có thể đưa vào đó nhiều biển khác nhau, như biển Bantích, Địa Trung Hải, Biển Đen... và cả Biển Đông của các nước Đông Nam Á chúng ta.

Về sự hợp tác giữa các quốc gia ven biển kín và š nửa kín, hội nghị đã đạt được thoả hiệp như sau:

" Các quốc gia ven bờ biển kín và nửa kín cần hợp tác với nhau trong việc sử dụng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ của họ theo Công ước năm 1982 về luật biển. Vì mục đích đó, các quốc gia này cố gắng phối hợp trực tiếp hoặc qua trung gian của một tổ chức khu vực thích hợp để quản tí, bảo tồn, thăm dò và khai thác các tài nguyên sinh vật biển.

Sử dụng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ ' của họ liên quan đến việc bảo vệ và gìn giữ môi trường biển.

Thực hiện chính sách nghiên cứu khoa học của họ, và nếu có thể thì thực hiện các chương trình nghiên cứu khoa học chung trong khu vực được xem xét.

Mời các quốc gia khác hoặc các tổ chức quốc tế hữu quan hợp tác với họ trong việc thực hiện điều khoản này nếu có thể làm được như vậy”.

Ở Việt Nam, thuật ngữ "Biển kín và nữa kín' được thể hiện trong các sách, báo khoa học pháp lí dưới các tên gọi rất khác nhau như có thể được gọi là “Biển nội địa" hay “Biển đóng và nửa đóng”, đặc biệt, trong bản dịch “Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982" của tập thể tác giả Lê Minh Nghĩa, Vũ Phi Hoàng, Viễn Đông và Trần Công Trục đã thống nhất gọi là “biển kín hay nửa kín".

3. Biển Đông và vùng biển Việt Nam thuộc loại biển kín hay nửa kín?

Biển Đông là biển nửa kín ven lục địa, thuộc Thái Bình Dương, có diện tích 3,447 triệu ki-lô-mét vuông, dài khoảng 1.900 hải lý, rộng khoảng 600 hải lý, độ sâu trung bình 1.149 mét. Biển Đông có hai vịnh lớn là Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan, có ba quần đảo: Đông Sa, Hoàng Sa, Trường Sa và hàng nghìn đảo lớn, nhỏ. Gần 90% chu vi Biển Đông được bao quanh bởi 9 quốc gia ven biển (Trung Quốc, Việt Nam, Căm-pu-chia, Thái Lan, Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po, In-đô-nê-xi-a, Bru-nây và Phi-líp-pin). Phần còn lại của Biển Đông thông ra Thái Bình Dương qua eo biển Ba-si và thông ra Ấn Độ Dương qua eo biển Ma-lắc-ca.

Biển Đông là đầu mối giao thông hàng hải và hàng không huyết mạch giữa châu Âu với châu Á và giữa nhiều nước châu Á với nhau; có 25% lưu lượng tàu thuyền của thế giới qua lại thường xuyên. Do đó, Biển Đông có vị trí chiến lược đối với châu Á-Thái Bình Dương và thế giới. Hằng năm, trên Biển Đông diễn ra hàng chục cuộc tập trận quân sự song phương và đa phương. Biển Đông cũng là con đường cơ động lực lượng quân sự trên biển ngắn nhất từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương, và ngược lại.
Nằm bên bờ Biển Đông, Việt Nam có vùng biển và thềm lục địa rộng khoảng một triệu ki-lô-mét vuông (lớn gấp 3 lần diện tích lãnh thổ đất liền), mở ra trên cả ba hướng: Đông, Nam và Tây-Nam, với chiều dài bờ biển trên 3.260 ki-lô-mét. Trên vùng biển của đất nước có 48 vũng, vịnh, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và có khoảng 3.000 đảo lớn, nhỏ (riêng hệ thống đảo ven bờ có 2.773 đảo). Hiện nay, về tổ chức hành chính, Việt Nam có 12 huyện đảo: Cô Tô, Vân Đồn (tỉnh Quảng Ninh), Bạch Long Vĩ, Cát Hải (Thành phố Hải Phòng), Cồn Cỏ (tỉnh Quảng Trị), Hoàng Sa (Thành phố Đà Nẵng), Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi), Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa), Phú Quý (tỉnh Bình Thuận), Côn Đảo (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu), Kiên Hải, Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang). Trong các huyện đảo nói trên, có nhóm huyện đảo tuyến trong, nhóm huyện đảo tiền tiêu-biên giới và nhóm huyện đảo tiền tiêu.
Vùng biển của Việt Nam rất giàu tài nguyên và cũng là vùng biển chứa đựng nhiều giá trị về mỹ học, địa chất-địa mạo học với Di sản thiên nhiên thế giới Hạ Long và các khu dự trữ sinh quyển thế giới. Đây còn là vùng biển có nguồn lợi sinh vật, các hệ sinh thái phong phú và nhiều loại khoáng sản với trữ lượng lớn. Với những yếu tố địa lý, lịch sử, xã hội và với sự đa dạng về tài nguyên như vậy, Biển Đông nói chung, vùng biển Việt Nam nói riêng có vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN ngày nay.

4. Quyền bảo vệ của các quốc gia ven biển

- Quốc gia ven biển có thể thi hành các biện pháp cần thiết trong lãnh hải của mình để ngăn cản mọi việc đi qua có gây hại.

- Đối với tàu thuyền đi vào vùng nội thủy hay vào một công trình cảng ở bên ngoài vùng nội thủy đó, quốc gia ven biển cũng có quyền thi hành những biện pháp cần thiết để ngăn ngừa mọi sự vi phạm đối với các điều kiện mà tàu thuyền này buộc phải tuân theo để được phép vào vùng nội thủy hay công trình cảng nói trên.

- Quốc gia ven biển có thể tạm thời đình chỉ việc thực hiện quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài tại các khu vực nhất định trong lãnh hải của mình, nếu biện pháp này là cần thiết để bảo đảm an ninh của mình, kể cả để thử vũ khí, nhưng không được phân biệt đối xử về mặt pháp lý hay về mặt thực tế giữa các tàu thuyền nước ngoài. Việc đình chỉ này chỉ có hiệu lực sau khi đã được công bố theo đúng thủ tục.

5. Nghĩa vụ của các quốc gia ven biển

- Quốc gia ven biển không được cản trở quyền đi qua không gây hại của các tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải, ngoài những trường hợp mà Công ước đã trù định. Đặc biệt khi áp dụng Công ước, quốc gia ben biển không được:

+ Áp đặt cho các tàu thuyền nước ngoài những nghĩa vụ dẫn đến việc cản trở hay hạn chế việc thực hiện quyền đi qua không gây hại của các tàu thuyền này;

+ Phân biệt đối xử về mặt pháp lý hay về mặt thực tế đối với các tàu thuyền chở hàng từ một quốc gia nhất định hay đến quốc gia đó hoặc nhân danh một quốc gia nhất định.

- Quốc gia ven biển thông báo thích đáng mọi nguy hiểm về hàng hải của mình biết trong lãnh hải của mình.