Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Lao động của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900 6162
1. Cơ sở pháp lý:
2. Người sử dụng lao động là gì?
Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thỏa thuận; trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
Chủ thể là người sử dụng lao động có phạm vi rất rộng: là pháp nhân hoặc tổ chức, cá nhân. Điều kiện pháp lý cho sự xuất hiện của từng nhóm chủ thể này có thể khác nhau và theo quy định của pháp luật chuyên ngành (Luật Doanh nghiệp, Luật hợp tác xã, Bộ luật dân sự…). qua đó cho thấy, để doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình tham gia quan hệ lao động với tư cách người sử dụng lao động thì các chủ thể nói trên phải được xuất hiện, thành lập, hoạt động một cách hợp pháp, tuân thủ các quy định pháp luật chuyên ngành liên quan. Trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật dân sự. Mục đích của mối quan hệ lao động ở đây là thuê mướn, sử dụng lao động, do đó năng lực để thực hiện hành vi này là yếu tố qquan trọng để xác định tư cách người sử dụng lao động. Cơ sở pháp lý của mối quan hệ là thông qua sự thỏa thuận tự nguyện của hai bên với nội dung liên quan đến việc sử dụng, thuê mướn lao động có trả lwuong, trả công và quyền quản lý, giám sát, điều hành của người sử dụng lao động.
3. Bình luận quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động
Điều 6 Bộ luật lao động năm 2019 quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động như sau:
1. Người sử dụng lao động có các quyền sau đây:
a) Tuyển dụng, bố trí, quản lý, điều hành, giám sát lao động; khen thưởng và xử lý vi phạm kỷ luật lao động;
b) Thành lập, gia nhập, hoạt động trong tổ chức đại diện người sử dụng lao động, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định của pháp luật;
c) Yêu cầu tổ chức đại diện người lao động thương lượng với mục đích ký kết thỏa ước lao động tập thể; tham gia giải quyết tranh chấp lao động, đình công; đối thoại, trao đổi với tổ chức đại diện người lao động về các vấn đề trong quan hệ lao động, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động;
d) Đóng cửa tạm thời nơi làm việc;
đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Người sử dụng lao động có các nghĩa vụ sau đây:
a) Thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và thỏa thuận hợp pháp khác; tôn trọng danh dự, nhân phẩm của người lao động;
b) Thiết lập cơ chế và thực hiện đối thoại, trao đổi với người lao động và tổ chức đại diện người lao động; thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc;
c) Đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nhằm duy trì, chuyển đổi nghề nghiệp, việc làm cho người lao động;
d) Thực hiện quy định của pháp luật về lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và an toàn, vệ sinh lao động; xây dựng và thực hiện các giải pháp phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
đ) Tham gia phát triển tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, đánh giá, công nhận kỹ năng nghề cho người lao động.
Tương tự như người lao động, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động cũng có mối liên hệ mật thiết, đan xen lẫn nhau và không tách rời. Sự xuất hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động luôn gắn với những điều kiện, sự kiện pháp lý tương ứng. Ngoài các quyền, nghĩa vụ được quy định tại Điều 6 có thể xuất hiện các quyền và nghĩa vụ khác của người sử dụng lao động do hai bên thỏa thuận không trái pháp luật.
Các quyền của người sử dụng lao động được pháp luật quy định chủ yếu gắn liền với quá trình (giai đoạn) của quan hệ lao động: Xác lập – thực hiện – chấm dứt và giải quyết xung đột, bất đồng.
Theo đó, trước hết với vị thế của mình trong quan hệ lao động, người sử dụng lao động có các quyền của người quản lý, điều hành trong phạm vi quan hệ lao động như: tuyển dụng, bố trí, giám sát lao động, áp dụng biện pháp kinh tế (thưởng, phạt) hoặc xử lý vi phạm kỷ luật lao động. Đồng thời là các quyền liên quan đến sự tương tác trong quan hệ lao động như: thành lập, gia nhập, hoạt động trong tổ chức đại diện người sử dụng lao động, yêu cầu tổ chức đại diện người lao động thương lượng với mục đích ký kết thỏa ước lao động tập thể, đối thoại, trao đổi với tố chức đaiị diện của người lao động về các vấn đề trong quan hệ lao động. Và khi xảy ra xung đột, bất đồng, tranh chấp thì người sử dụng lao động có quyền: tham gia giải quyết tranh chấp lao động, đình công; đóng cửa tạm thời nơi làm việc. Như vậy, các quyền của người sử dụng lao động khá đa dạng và có phạm vi rộng, song tùy từng sự kiện, bối cảnh, điều kiện mà một hoặc một số quyền của người sử dụng lao động sẽ được pháp luật lao động đảm bảo thực hiện trên thực tế.
Các nghĩa vụ của người sử dụng lao động gắn liền với cam kết của họ trong quan hệ lao động (cá nhân, tập thể), trách nhiệm của họ với Nhà nước và trách nhiệm xã hội của daonh nghiệp. Theo đó, người sử dụng lao động có nghĩa vụ thực hiện các cam kết với người lao động, tập thể lao động được ghi nhận trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc các thỏa thuận hợp pháp khác. Người sử dụng lao động có trách nhiệm tạo lập các điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, thời gian, địa điểm… nhằm thực hiện đối thoại, trao đổi, với người lao động và tổ chức đại diện người lao động theo định kỳ hoặc đột xuấ theo yêu cầu của người lao động, tập thể lao động. Trách nhiệm trong việc đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, đánh giá tiêu chuẩn chức năng nghề… cho người lao động nhằm đảm bảo cho họ có việc làm bền vững, chất lượng, hiệu quả. Đây vừa là trách nhiệm pháp lý, vừa là trách nhiệm xã hội của người sử dụng lao động. Ngoài ra người sử dụng lao động còn phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, an toàn, vệ sinh lao động, phòng chống quấy rối tình dục…) với mục đích thực hiện an sinh xã hội cho người lao động và tạo lập môi trường lao động an toàn, văn minh và lành mạnh.
Các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động có tính tương hỗ, liên hệ biện chứng. Sự ghi nhận quyền và nghĩa vụ của người sử dụng trong Bộ luật lao sộng nhằm:
+ Ghi nhận và thể hiện sự tôn trọng của Nhà nước với người sử dụng lao động về đại vị pháp lúy, các quyền của họ trong quan hệ lao động
+ Là giới hạn pháp lý, công cụ kiểm soát hành vi của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động. Nói cách khác, các quyền của người sử dụng lao động được pháp luật thừa nhận nhưng cần được thực hiện trong khung khổ pháp lý nhất định.
4. Bình luận quy định về tổ chức đại diện của người sử dụng lao động
Tổ chức đại diện người sử dụng lao động là tổ chức được thành lập hợp pháp, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động
Tổ chức đại điện người sử dụng lao động là thiết chế được lập ra với chức năng, nhiệm vụ đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động. Việc xác lập các tổ chức đại diện người sử dụng lao động dựa trên nguyên tắc tự nguyện, tự do liên kết. Quy định tại khoản 4 cho thấy:
+ Tổ chức đại diện của người sử dụng lao động phải là tổ chức được thành lập hợp pháp, tức là theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Bộ luật lao động không có quy định cụ thể về tên tổ chức, trình tự, thủ tục, điều kiện,… thành lập tổ chức đại diện người sử dụng lao động như với tổ chức của người lao động;
+ Tổ chức đại diện người sử dụng lao động được thành lập nhằm bảo vệ các thành viên của mình về những vấn đề liên quan đến quan hệ lao động.
5. Bình luận quy định về tổ chức đại diện của người lao động
Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở là tổ chức được thành lập trên cơ sở tự nguyện của người lao động tại một đơn vị sử dụng lao động nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động thông qua thương lượng tập thể hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật về lao động. Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở bao gồm công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp.
Đây là một nội dung mới, lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật lao động phù hợp với tiêu chuẩn lao động quốc tế về tự do lập hội đối với người lao động. Quy định của Điều luật này cho thấy:
+ Thứ nhất, về tên gọi, đây là tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở và gắn với một đơn vị sử dụng lao động cụ thể. Như vậy, sẽ không có tổ chức đại diện người lao động ở cấp độ cao hơn cấp cơ sở. Tổ chức đại diện được thành lập trên cơ sở tự nguyện của người lao động, như vậy tham gia tổ chức đại diện hay không do người lao động quyết định. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc sự xuất hiện của tổ chức đại diện người lao động không phải là bắt buộc với người lao động trong quan hệ lao động.
+ Thứ hai, tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở xuất hiện nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động. Do đó, tất cả các hoạt động của tổ chức đại diện người lao động nếu ngoài mục đích nói trên (ví duh: mục đích chính trị) đều bị coi là vi phạm pháp luật lao động và có thể dẫn đến hậu quả bất lợi với tổ chức (đình chỉ hoạt động, thu hồi đăng ký…). Quy định này phù hợp với văn kiện pháp lý quốc tế cũng như thông lệ pháp luật của nhiều quốc gia.
+ Thứ ba, tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà không phải là công đoàn cơ sở chỉ được thành lập ở doanh nghiệp mà chưa được thành lập ở những đơn vị sử dụng lao động khác (cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp nhà nước, lực lượng vũ trang…). Như vậy, người lao động dù làm việc ở bất cứ đâu (cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội…) đều có quyền lựa chọn tham gia tổ chức đại diện thuộc hệ thống Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam. Người lao động làm việc ở doanh nghiệp có thêm quyền lựa chọn tổ chức đại diện của mình không thuộc tổ chức công đoàn thuộc hệ thống Tổng liên đoàn lao động Việt Nam. Nối cách khác, người lao động làm việc trong các doanh nghiệp có nhiều quyền lựa chọn thành lập tổ chức đại diện hơn người lao động làm việc không thuộc các doanh nghiệp. Điều này cũng cho thấy khi tham chiếu đến các quy định của Công ước số 87 và 98 thì việc ghi nhận quyền tự do gai nhập, thành lập tổ chức đại diện của người lao động theo pháp luật lao động Việt Nam cong chưa thực sự đầy đủ xét về khía cạnh đối tượng lao động. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay đây là vấn đề mới ở Việt Nam thì quy định như trên cũng là sự thận trọng cần thiết, thêm nữa, vấn đề tự do lựa chọn đại diện lao động thật ra có nhiều ý nghĩa với người lao động làm việc trong doanh nghiệp hơn khu vực hành chính công. Trong điều kiện hiện nay, quy định như vậy vừa tạo điều miện thúc đấy, tăng cường vai trò, vị thế và hiệu quả hoạt động của công đoàn thuộc hệ thống Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, vừa tạo điều kiện thuận lợi bảo đảm hoạt động lành mạnh trong phạm vi quan hệ lao động của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, vừa bảo đảm thực thi các cam kết quốc tế phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, xã hội và đặc điểm của quan hệ lao động ở Việt Nam.
+ Thứ tư, hình thức tương tác giữa tổ chức đại diện người lao động với người sử dụng lao động/ đại diện người sử dụng lao động là thương lượng tập thể hoặc các hình thức khác do pháp luật quy định (đối thoại, thỏa ước lao động tập thể). Do đó, về nguyên tắc khi nảy sinh mối quan hệ giữa hai bên thì hình thức pháp lý để các bên lựa chọn là do pháp luật quy định chứ không phải là hành động đơn phương hay lựa chọn duy ý chí của các bên.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập