Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
Cơ sở pháp lý:
Hiến pháp năm 2013;
Bộ luật Dân sự năm 2015;
Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Luật thương mại năm 2005.
1. Văn bản pháp luật là gì?
Văn bản pháp luật là những văn bản chứa đừng những quy tắc xử sự chung, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo những trình tự và thủ tục nhất định.
Văn bản pháp luật mang ý chí chủ quan của nhà nước, mang tính bắt buộc và được thi hành bằng cưỡng chế nhà nước.
Văn bản pháp luật bao gồm 3 nhóm:
+ Nhóm văn bản quy phạm pháp luật
+ Nhóm văn bản áp dụng pháp luật
+ Nhóm văn bản hành chính.
Trong đó mỗi nhóm văn bản có những điểm riêng về nội dung, hình thức, có tính chất, vai trò riêng trong việc quản lý nhà nước và điều chỉnh các mối quan hệ xã hội.
2. Hệ thống văn bản pháp luật là gì?
Hệ thống văn bản pháp luật là toàn bộ các văn bản pháp luật được nhà nước ban hành theo trình tự và thủ tục nhất định, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và dung để quản lý nhà nước vầ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội.
3. Bộ luật Dân sự có phải văn bản pháp luật chung quan trọng nhất điều chỉnh về hợp đồng không?
Pháp luật về họp đồng trước tiên được điều chỉnh bởi văn bản pháp luật chung về hợp đồng. Đây là các văn bản được ban hành để điều chỉnh chung cho nhiều loại họp đồng và chủ yếu bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật. Văn bản pháp luật chung quan trọng nhất điều chỉnh về họp đồng hiện nay là Bộ luật Dân sự 2015. Ngoài ra, Hiến pháp 2013 và Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cũng là các văn bản pháp luật chung quan trọng điều chỉnh về hợp đồng. Tại thời điểm hiện nay, chưa có nhiều văn bản hành chính và văn bản áp dụng pháp luật về hợp đồng.
Bộ luật Dân sự 2015 là văn bản pháp luật chung quan trọng nhất điều chỉnh các vấn đề pháp lý liên quan đến quan hệ dân sự (trong đó có hợp đồng dân sự). Đây là bộ luật điều chỉnh các quan hệ tư theo pháp luật Việt Nam. Về cơ bản, Bộ luật Dân sự 2015 là bộ luật điều chỉnh về quyền và nghĩa vụ dân sự của cá nhân và pháp nhân trong quan hệ dân sự, trong đó có quan hệ hợp đồng. Do vậy, không phải mọi quy định của Bộ luật Dân sự 2015 đều liên quan đến hợp đồng. Các quy định chung về hợp đồng được quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 bao gồm (ngoài các quy định khác):
- Khái niệm hợp đồng và các loại hợp đồng chủ yếu;
- Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về họp đồng;
- Giao kết họp đồng;
- Hiệu lực của họp đồng và hợp đồng vô hiệu;
- Nội dung một số loại hợp đồng chủ yếu;
- Thực hiện hợp đồng và miễn trừ trách nhiệm;
- Vi phạm và biện pháp khắc phục;
- Sửa đổi, hủy bỏ và đon phương chấm dứt hợp đồng;
- Họp đồng vì lợi ích của bên thứ ba;
- Các nguyên tắc chọn pháp luật áp dụng cho hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài; và
- Thời hiệu khởi kiện.
Mặc dù có nhiều thay đổi tiến bộ so với Bộ luật Dân sự 2005, bản thân một số quy định mới của Bộ luật Dân sự 2015 làm cho phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự 2015 không thực sự rõ ràng. Có hai điểm cần lưu ý liên quan đến phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự 2015, đó là hạn chế tiềm tàng liên quan đến phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự 2015 và quan hệ của Bộ luật Dân sự 2015 với Luật Thương mại 2005.
Từ những phân tích trên, Bộ luật Dân sự là văn bản pháp luật quan trọng nhất điều chỉnh về hợp đồng hiện nay.
3.1 Hạn chế tiềm tàng liên quan đến phạm vỉ điều chỉnh của Bộ luật Dân sự 2015
Bộ luật Dân sự 2015 đã sửa đổi định nghĩa về quan hệ dân sự theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2005. Cụ thể, Bộ luật Dân sự 2015 đã chuyển từ phương pháp liệt kê các quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự 2005 sang mô tả các tiêu chí của quan hệ dân sự (là “quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm”).
Vấn đề pháp lý được đặt ra là nếu quan hệ dân sự được định nghĩa thông qua các tiêu chí nói trên thì liệu Bộ luật Dân sự 2015 có điều chỉnh các quan hệ không đáp ứng đầy đủ các tiêu chí trên hay không, về mặt logic, quan hệ không đáp ứng các tiêu chí của quan hệ dân sự theo Bộ luật Dân sự 2015 thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự 2015 và các quy định của bộ luật này sẽ không được áp dụng đối với quan hệ đó. Như vậy, cách quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 về mặt kỹ thuật đã tạo ra một lỗ hổng pháp lý khi loại trừ những quan hệ không đáp ứng các tiêu chí của quan hệ dân sự theo Bộ luật Dân sự 2015 khỏi phạm vi điều chỉnh của bộ luật này. Trong khi đó, tại thời điểm hiện nay không có quy định pháp luật nào khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam (bên cạnh Bộ luật Dân sự 2015) điều chỉnh các vấn đề liên quan đến những quan hệ đó. Ví dụ, họp đồng được xác lập do một bên bị cưỡng ép không đáp ứng tiêu chí về bình đẳng và tự do ý chí theo định nghĩa về quan hệ dân sự tại Bộ luật Dân sự 2015. về lý thuyết, họp đồng trên không thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự 2015 nhưng quan hệ trên không được quy định tại các văn bản pháp luật khác.
Theo ý kiến cá nhân của tác giả, quan hệ dân sự cần được hiểu rộng hơn các quan hệ đáp ứng các tiêu chí như được quy định tại Bộ luật Dân sự 2015. Có lẽ chỉ nên hiểu quy định của Bộ luật Dân sự 2015 nhấn mạnh tính chất của quan hệ dân sự và chứ không nhằm loại trừ các quan hệ không đáp ứng các tiêu chí trên. Cách Bộ luật Dân sự 2015 hiện đang quy định cũng thể hiện cách hiểu này. Quay trở lại ví dụ hợp đồng được xác lập do một bên bị cưỡng ép không đáp ứng tiêu chí về bình đẳng và tự do ý chí, Bộ luật Dân sự 2015 vẫn quy định hậu quả là hợp đồng có thể bị vô hiệu. Nói cách khác, Bộ luật Dân sự 2015 vẫn điều chỉnh hợp đồng trên, cụ thể là về thủ tục và hậu quả của việc tuyên hợp đồng vô hiệu.
Nói một cách rộng hơn, hợp đồng dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự 2015 nên được hiểu là bao hàm tất cả các quan hệ giữa cá nhân và pháp nhân không mang tính chẩt mệnh lệnh hoặc trừng phạt nhà nước. Định nghĩa này phù hợp với vai trò lịch sử của pháp luật dân sự là một ngành “luật tư” (nghĩa là luật điều chỉnh quan hệ có tính chất bình đẳng và tự nguyện) để phân biệt với “luật công” (nghĩa là luật điều chỉnh quan hệ có tính chất bất bình đẳng xuất phát từ chức năng quản lý nhà nước).
3.2 Quan hệ của Bộ luật Dãn sự 2015 với Luật Thương mại 2005
Hai văn bản pháp luật về hợp đồng thường được nhắc tới là Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005. Có thể suy luận là Bộ luật Dân sự 2015 điều chỉnh hợp đồng dân sự giữa các cá nhân và pháp nhân. Được ban hành dựa trên Bộ luật Dân sự 2005, Luật Thương mại 2005 điều chỉnh hợp đồng thương mại là hợp đồng được ký kết giữa một trong các bên là thương nhân (có nghĩa là tổ chức hoặc cá nhân hoạt động vì mục đích sinh lợi một cách thường xuyên, độc lập và có đăng ký kinh doanh). Tại thời điểm Bộ luật Dân sự 2005 vẫn còn có hiệu lực, hợp đồng thương mại được liệt kê cụ thể là một loại hợp đồng dân sự. Luật Thương mại 2005 cũng quy định về việc áp dụng Bộ luật Dân sự 2005 (tiền thân của Bộ luật Dân sự 2015) trong trường hợp Luật Thương mại 2005 không điều chỉnh một vấn đề cụ thể về hoạt động thương mại. Với cách định nghĩa lại về quan hệ dân sự trong Bộ luật Dân sự 2015, vấn đề pháp lý được đặt ra là liệu Bộ luật Dân sự 2015 có điều chỉnh quan hệ hợp đồng thương mại hay không.
Bộ luật Dân sự 2015 điều chỉnh mọi “quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm. Có thể suy luận là chủ thể của hợp đồng dân sự có thể là bất kỳ cá nhân hay pháp nhân nào và Bộ luật Dân sự 2015 không đặt ra điều kiện rằng các bên tham gia hợp đồng dân sự không được là thương nhân. Do đó, hợp đồng thương mại cũng được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự 2015. Cũng cần lưu ý là do được ban hành dựa trên Bộ luật Dân sự 2005, chủ thể của Luật Thương mại 2005 bao gồm cả tổ chức không phải là pháp nhân. Trong khi đó, chủ thể của Bộ luật Dân sự 2015 chỉ bao gồm cá nhân và pháp nhân và do vậy, về lý thuyết chủ thể của hợp đồng theo Luật Thương mại 2005 rộng hơn Bộ luật Dân sự 2015.
Hợp đồng thương mại vẫn là một loại hợp đồng dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005 là luật riêng điều chỉnh hợp đồng thương mại còn Bộ luật Dân sự 2015 là luật chung điều chỉnh hợp đồng dân sự (trong đó có họp đồng thương mại). Trong trường hợp Luật Thương mại 2005 và luật khác (với tư cách là luật riêng) không có quy định điều chỉnh về một vấn đề cụ thể, Bộ luật Dân sự 2015 với tư cách là luật chung sẽ áp dụng. Sự thay đổi của Bộ luật Dân sự 2015 về chủ thể có thể dẫn đến cách hiểu là chủ thể của họp đồng theo Luật Thương mại 2005 chỉ bao gồm pháp nhân và không bao gồm tổ chức không phải là pháp nhân.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tá
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê