1. Những đổi mới quan trọng trong vấn đề chứng cứ và chứng minh

Chứng cứ và chứng minh là một trong những vấn đề quan trọng nhất của tố tụng hình sự. Toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự thực chất là quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, mặc dù cách thức tiến hành ở mỗi giai đoạn có khác nhau. Tổng kết thực tiễn thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã chỉ ra một số hạn chế, bất cập trong các quy định hiện hành về chứng cứ làm ảnh hưởng đến yêu cầu giải quyết vụ án, nhất là chưa đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống tội phạm trong tình hình mối, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm “mạng”...

Nhằm tháo gỡ những bất cập trong pháp luật hiện hành, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã có những đổi mới quan trọng trong vấn đề chứng cứ và chứng minh:

Thứ nhất, thay đổi khái niệm chứng cứ theo hướng phá thế “độc quyền” trong việc thu thập chứng cứ (hiện đang chỉ giao cho cơ quan tố tụng); theo đó, bổ sung cho người bào chữa có quyền thu thập chứng cứ, người bị buộc tội có quyền đưa ra chứng cứ (Điều 86).

Thứ hai, quy định cụ thể cách thức người bào chữa thu thập chứng cứ nhằm bảo đảm tính khả thi, tránh gây khó khăn trong thực tiễn thực hiện (Điều 88).

Thứ ba, bổ sung và quy định cụ thể trách nhiệm, trình tự, thủ tục các cơ quan tố tụng tiếp nhận và đánh giá chứng cứ do những người tham gia tố tụng cung cấp (Điều 88).

Thứ tư, bổ sung vào hệ thống nguồn chứng cứ gồm: dữ liệu điện tử; kết quả định giá tài sản; kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác (Điều 87).

Thứ năm, quy định cụ thể trình tự, thủ tục thu thập, phục hồi dữ liệu điện tử nhằm bảo đảm tính khách quan, tính nguyên trạng và tính có thể kiểm chứng của loại chứng cứ đặc thù này (Điều 107).

Thứ sáu, bổ sung nguyên tắc loại trừ chứng cứ: “Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án” nhằm khắc phục những biểu hiện tùy tiện, vi phạm phạm quyền con người, quyền công dân có thể xảy ra trong quá trình chứng minh về vụ án (Điều 87).

Thứ bảy, bổ sung đầy đủ những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự nhằm đạt yêu cầu đối với các cơ quan tố tụng phải tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc khách quan, toàn diện, tránh tâm lý chủ quan, một chiều trong quá trình chứng minh về vụ án; theo đó, bổ sung trách nhiệm phải chứng minh: nguyên nhân và điều kiện phạm tội, những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt (Điều 85).

Có thể nói, những sửa đổi, bổ sung nêu trên đã góp phần hoàn thiện lý luận về chứng cứ; tạo cơ sở pháp lý vững chắc để đấu tranh hiệu quả hơn với tội phạm trong thời kỳ đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ hiện đại và hội nhập quốc tế sâu rộng ngày nay.

2. Chủ thể thu thập chứng cư

Tại Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 quy định: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”.

Như vậy, BLTTHS năm 2015 không quy định “chủ thể” sử dụng chứng cứ trong khái niệm về chứng cứ, đó chính là quy định tiến bộ trong tố tụng hình sự, tạo điều kiện cho những người tham gia tố tụng, đặc biệt là người bị buộc tội, người bào chữa, bị hại... có thể tham gia vào quá trình chứng minh, giải quyết vụ án hình sự. Đối với việc quy định quyền và nghĩa vụ của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố; người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt; người bị tạm giữ; bị can; bị cáo; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người bào chữa đều có quyền “trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá”. Đồng thời bổ sung thêm quyền và nghĩa vụ cho người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, đương sự có quyền “thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ”.

3. Các loại nguồn chứng cứ

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về nguồn chứng cứ gồm:

“1. Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn: a) Vật chứng; b) Lời khai, lời trình bày; c) Dữ liệu điện tử; d) Kết luận giám định, định giá tài sản; đ) Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; e) Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác; g) Các tài liệu, đồ vật khác.

2. Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự” (Điều 87 BLTTHS năm 2015).

So với Điều 64 BLTTHS năm 2003, thì Điều 87 BLTTHS năm 2015 bổ sung thêm nguồn chứng cứ là: Dữ liệu điện tử, kết luận định giá tài sản, kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác.

4. Quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định cụ thể về quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa. Theo đó, khoản 1 Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định ba quyền của người bào chữa liên quan đến chứng cứ:

  • Quyền thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
  • Quyền kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá và
  • Quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản.

Có thể nói, quyền thu thập chứng cứ, quyền kiểm tra, đánh giá chứng cứ và quyền đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ là ba quyền rất quan trọng của người bào chữa, thể hiện vai trò, vị thế của người bào chữa trong quá trình tiến hành tố tụng.

Trong quá trình xét xử vụ án hình sự, Tòa án có nghĩa vụ phải tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án do cá nhân, tổ chức, cơ quan cung cấp, bao gồm cả chứng cứ được thu thập của người bào chữa. Ngay sau khi tiếp nhận các chứng cứ, tài liệu, đồ vật này, Tòa án phải chuyển cho Viện kiểm sát cùng cấp để tiến hành kiểm tra, đánh giá. Viện kiểm sát có nghĩa vụ phải xem xét và chuyển lại cho Tòa án để đưa vào hồ sơ vụ án trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu, đồ vật.

Có thể nói, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có quy định mới hết sức tiến bộ khi trao cho người bào chữa quyền thu thập chứng cứ và buộc cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ tiếp nhận các tài liệu, chứng cứ này. Việc trao cho người bào chữa quyền thu thập chứng cứ là một bước tiến nhằm nâng cao vị thế của người bào chữa trở nên ngang bằng với bên buộc tội, đảm bảo quyền bào chữa được thực hiện trên thực tiễn.

5. Trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ của người bào chữa

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, người bào chữa đã có quyền tự mình thu thập chứng cứ bằng hai phương thức:

- Gặp người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án;

- Đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa.

Từ hai phương thức trên, mặc dù khoản 1 Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về 07 nguồn của chứng cứ, nhưng người bào chữa chỉ có thể thu thập được các nguồn chứng cứ bao gồm: Lời khai, lời trình bày; Vật chứng; Dữ liệu điện tử và Tài liệu, đồ vật khác.

So sánh giữa khoản 1 và khoản 2 Điều 88 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về việc thu thập chứng cứ của cơ quan tiến hành tố tụng và người bào chữa, có thể thấy tại khoản 1 thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có quyền tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ “theo quy định của Bộ luật này”, còn tại khoản 2 thì người bào chữa có quyền thực hiện hai phương thức thu thập chứng cứ nói trên nhưng lại không bị ràng buộc bởi “theo quy định của Bộ luật này”. Có thể suy ra, các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ chỉ áp dụng trong trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ chứ không phải áp dụng cho trường hợp người bào chữa thu thập chứng cứ. Như vậy, một vấn đề phát sinh là mặc dù hiện nay pháp luật cho phép người bào chữa có quyền thu thập bốn loại nguồn chứng cứ trên, nhưng lại không quy định cụ thể về trình tự, thủ tục để thu thập các loại chứng cứ này.

Đối với hoạt động thu thập chứng cứ của người bào chữa, do Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không có quy định cụ thể nên trên thực tế, đa số người bào chữa cũng thường cố gắng áp dụng các quy định tại các điều 105, 107, 183, 184, 186, 187, 188 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để thu thập chứng cứ thông qua các hình thức biên bản trao đổi, biên bản làm việc hoặc yêu cầu người cho lời khai viết bản tự trình bày, biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài liệu, đồ vật, có thể có kèm theo ghi âm hoặc ghi hình. Tuy nhiên, việc thực hiện các hoạt động này trên thực tế có sự khác biệt rất lớn trong từng trường hợp tùy theo nhận thức của mỗi người bào chữa về vấn đề áp dụng pháp luật bởi các điều luật trên vốn không được quy định cho hoạt động thu thập chứng cứ của người bào chữa.

6. Thủ tục các cơ quan tố tụng tiếp nhận và đánh giá chứng cứ do những người tham gia tố tụng cung cấp

Khi tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án do người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác (những người quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự 2015) cung cấp, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản giao nhận và kiểm tra, đánh giá theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày lập biên bản về hoạt động điều tra, thu thập, nhận được tài liệu liên quan đến vụ án mà Kiểm sát viên không trực tiếp kiểm sát theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển biên bản, tài liệu này cho Viện kiểm sát để kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án. Trường hợp do trở ngại khách quan thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 15 ngày. Trong thời hạn 03 ngày, Viện kiểm sát đóng dấu bút lục và sao lưu biên bản, tài liệu lưu hồ sơ kiểm sát và bàn giao nguyên trạng tài liệu, biên bản đó cho Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Việc giao, nhận tài liệu, biên bản được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật tố tụng hình sự.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)