- 1. Một số khái niệm liên quan đến đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật
- 2. Các trường hợp bỏ việc ngang
- 2.1. Trường hợp được phép bỏ việc ngang
- 2.2. Trường hợp bỏ việc ngang là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật
- 3. Bỏ việc ngang có thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật không?
- 4. Hậu quả của việc bỏ việc ngang trái luật
1. Một số khái niệm liên quan đến đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật
Khái niệm bỏ việc ngang:
Bỏ việc ngang là hành vi người lao động tự ý ngừng làm việc mà không thực hiện theo các quy định về chấm dứt hợp đồng lao động. Nói cách khác, người lao động bỏ việc ngang là hành vi vi phạm nghĩa vụ tuân thủ hợp đồng lao động đã ký kết với người sử dụng lao động.
- Hậu quả của việc bỏ việc ngang:
Đối với người lao động:
+ Mất quyền lợi trợ cấp thôi việc.
+ Có thể bị bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động do vi phạm hợp đồng lao động.
+ Bị ảnh hưởng đến uy tín, khả năng tìm kiếm việc làm sau này.
- Đối với người sử dụng lao động:
+ Gây khó khăn trong việc sắp xếp kế hoạch sản xuất, kinh doanh.
+ Gây mất ổn định cho quan hệ lao động trong doanh nghiệp.
+ Có thể phải bồi thường thiệt hại cho người lao động do vi phạm hợp đồng lao động (trong một số trường hợp nhất định).
Khái niệm đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động:
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là hành vi chấm dứt hợp đồng lao động do một bên (người sử dụng lao động hoặc người lao động) thực hiện mà không cần sự đồng ý của bên kia.
Có hai hình thức đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động:
- Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động:
+ Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong một số trường hợp nhất định, được quy định tại Điều 38 Bộ luật Lao động 2019.
+ Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, người lao động cần thực hiện theo đúng quy định về thời hạn thông báo nghỉ việc và thanh toán các khoản lương, thưởng, phụ cấp theo hợp đồng lao động.
- Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động:
+ Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong một số trường hợp nhất định, được quy định tại Điều 72 Bộ luật Lao động 2019.
+ Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động cần thực hiện theo đúng quy định về thời hạn thông báo nghỉ việc, bồi thường thiệt hại cho người lao động và thanh toán các khoản lương, thưởng, phụ cấp theo hợp đồng lao động.
2. Các trường hợp bỏ việc ngang
2.1. Trường hợp được phép bỏ việc ngang
Bỏ việc ngang là hành vi người lao động tự ý ngừng làm việc mà không thực hiện theo các quy định về chấm dứt hợp đồng lao động. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, người lao động được phép bỏ việc ngang mà không vi phạm pháp luật bao gồm:
- Không được bố trí đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận: Người lao động có quyền chấm dứt hợp đồng nếu người sử dụng lao động không sắp xếp đúng công việc hoặc địa điểm làm việc đã được thỏa thuận, hoặc không bảo đảm các điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật Lao động.
- Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn: Người lao động có quyền chấm dứt hợp đồng khi không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp đặc biệt được quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật Lao động.
- Bị ngược đãi, đánh đập hoặc bị hành vi nhục mạ: Người lao động có quyền chấm dứt hợp đồng khi bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có các lời nói, hành vi nhục mạ, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự hoặc khi bị cưỡng bức lao động.
- Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc: Người lao động có quyền chấm dứt hợp đồng nếu bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc, điều này bảo đảm môi trường làm việc an toàn và tôn trọng cho người lao động.
- Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc: Lao động nữ mang thai có quyền chấm dứt hợp đồng lao động nếu họ phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Lao động 2019.
- Đủ tuổi nghỉ hưu: Người lao động có quyền chấm dứt hợp đồng khi đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật Lao động 2019, trừ khi có thỏa thuận khác giữa các bên liên quan.
- Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực: Người lao động có quyền chấm dứt hợp đồng nếu người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật Lao động 2019, ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.
2.2. Trường hợp bỏ việc ngang là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật
Bỏ việc ngang trái luật là hành vi người lao động tự ý ngừng làm việc mà không có lý do chính đáng hoặc vi phạm quy định về thời hạn thông báo nghỉ việc
Người lao động chỉ được phép bỏ việc ngang trong một số trường hợp nêu trên. Nếu người lao động bỏ việc ngang mà không có lý do chính đáng, họ sẽ vi phạm nghĩa vụ tuân thủ hợp đồng lao động và có thể phải chịu các hậu quả như:
- Mất quyền lợi trợ cấp thôi việc;
- Bị bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động do vi phạm hợp đồng lao động
3. Bỏ việc ngang có thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật không?
Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động được quy định tại Điều 39 Bộ luật Lao động 2019 như sau:
- Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là hành động chấm dứt hợp đồng lao động không tuân theo các quy định tại các Điều 35, 36 và 37 của Bộ luật Lao động.
Như vậy, theo quy định nêu trên, người lao động chỉ được phép đơn phương chấm dứt hợp đồng khi có lý do chính đáng, thuộc các trường hợp được phép đơn phương chấm dứt hợp đồng, và phải thông báo trước cho người sử dụng lao động theo thời hạn quy định. Dưới đây là hai trường hợp cụ thể:
Trường hợp 1:
Người lao động bỏ việc ngang nhưng thuộc trường hợp được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động: Nếu người lao động thuộc diện được phép đơn phương chấm dứt hợp đồng và đã thực hiện việc thông báo trước cho người sử dụng lao động theo đúng thời hạn quy định, thì việc chấm dứt hợp đồng được xem là hợp pháp. Điều này đảm bảo rằng người lao động thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Trường hợp 2:
Người lao động bỏ việc ngang không thuộc trường hợp được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc không thông báo trước: Nếu người lao động không thuộc diện được phép đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc thuộc diện được phép nhưng không thực hiện việc thông báo trước cho người sử dụng lao động (trong các trường hợp yêu cầu phải thông báo), thì hành động này được xác định là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật. Điều này có thể dẫn đến các hậu quả pháp lý và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động.
Theo đó, để tránh vi phạm pháp luật và các hậu quả không mong muốn, người lao động cần phải hiểu rõ và tuân thủ đúng các quy định liên quan đến việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Việc này bao gồm việc đảm bảo có lý do chính đáng và thực hiện thông báo trước theo đúng thời hạn quy định của pháp luật.
4. Hậu quả của việc bỏ việc ngang trái luật
Hậu quả đối với người lao động:
- Phải bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động: Theo quy định tại Bộ luật Lao động 2019, người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động. Mức bồi thường được xác định dựa trên một số yếu tố như: thời hạn hợp đồng lao động còn lại, mức lương của người lao động, chi phí tuyển dụng, đào tạo lao động mới,...
- Mất các quyền lợi về bảo hiểm xã hội, trợ cấp thôi việc: Người lao động bỏ việc ngang trái luật sẽ không được hưởng trợ cấp thôi việc, ngay cả khi họ đã tham gia bảo hiểm xã hội đầy đủ thời gian. Ngoài ra, việc bỏ việc ngang có thể ảnh hưởng đến thời gian tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động, dẫn đến việc hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội sau này thấp hơn.
- Bị ảnh hưởng đến uy tín, khả năng xin việc sau này: Việc bỏ việc ngang trái luật thể hiện sự thiếu trách nhiệm, thiếu chuyên nghiệp của người lao động. Do đó, khi tìm kiếm việc làm mới, người lao động có thể gặp khó khăn do nhà tuyển dụng e dè, không tin tưởng họ.
Hậu quả đối với người sử dụng lao động:
- Gặp khó khăn trong việc tuyển dụng, sắp xếp lao động: Việc người lao động bỏ việc ngang trái luật khiến người sử dụng lao động thiếu hụt nhân lực đột ngột, ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất, kinh doanh. Do đó, họ phải mất thời gian và chi phí để tuyển dụng, đào tạo lao động mới.
- Ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh: Việc thiếu hụt nhân lực do người lao động bỏ việc ngang có thể khiến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp bị gián đoạn, ảnh hưởng đến doanh thu, lợi nhuận.
- Phải bồi thường thiệt hại cho người lao động trong một số trường hợp: Trong một số trường hợp nhất định, người sử dụng lao động có thể phải bồi thường thiệt hại cho người lao động khi họ bỏ việc ngang trái luật. Ví dụ như: người lao động bỏ việc ngang do bị người sử dụng lao động quấy rối, bạo hành...
Xem thêm: Người lao động nghỉ ngang trái pháp luật chịu hậu quả thế nào?
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Bỏ việc ngang có phải là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất. Xin trân trọng cảm ơn!