7/6/2016 tôi vẫn chưa được kí kết bất kì hợp đồng lao động nào khi đã làm việc hơn 5 tháng. Tôi đơn phương chấm dứt lao động không thông báo với công ty. Công ty yêu cầu tôi phải quay lại bàn giao cửa hàng, trong khi trước ngày nghỉ việc tôi đã đưa lại tiền đang giữ cho nhân viên khác tại cửa hàng. Nhưng công ty vẫn muốn tôi kí biên bản chênh lệch hàng trong khi tôi không có trách nhiệm kiểm kê thực tế so với hệ thống. Tôi không hợp tác vì không biết có bất lợi gì cho mình không thì công ty dọa đưa ra sử lý vi phạm dân/hình sự.

Với trường hợp của tôi có phải bồi thường gì cho công ty khi nghỉ việc đơn phương không? Và vấn đề bàn giao hàng hóa đó nếu bắt tôi đền bù có đúng không?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật lao động của công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau: 

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật lao động năm 2012

>> Xem thêm:  Hậu quả pháp lý khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ? Mức bồi thường

2. Nội dung tư vấn:

Theo Khoản 1 Điều 18 Bộ luật Lao động 2012 quy định về nghĩa vụ giao kết hợp đồng lao động như sau:

“1. Trước khi nhận người lao động vào làm việc, người sử dụng lao động và người lao động phải trực tiếp giao kết hợp đồng lao động.

Điều 22 Bộ luật lao động quy định về các loại hợp đồng:

1. Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:

a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.

b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.

c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

>> Xem thêm:  Đơn phương chấm dứt HĐLĐ khi có cam kết làm việc lâu dài có trái luật ?

2. Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.

Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

3. Không được giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản, ốm đau, tai nạn lao động hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác.

Dựa theo những quy định nêu trên thì công ty chỉ có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói (hợp đồng miệng) thời hạn dưới 3 tháng với người lao động. Nếu sau khi hết thời hạn 3 tháng bạn vẫn tiếp tục làm việc tại công ty thì sau thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng lao động miệng hết hạn mà công ty không ký hợp đồng mới, sẽ áp dụng quy định tại Khoản 2 Điều 22 nêu trên. Bạn đã làm việc được 5 tháng nhưng không ký hợp đồng lao động, do vậy hợp đồng của bạn được coi là hợp đồng xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.

Do đó, Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn, bạn phải tuân thủ theo quy định tại Điều 37 Bộ luật lao động như sau:

"1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

Theo thỏa thuận, bạn làm việc tại công ty với vị trí nhân viên bán hàng nhưng trong thời gian làm việc tại công ty bạn thấy công việc không đúng theo thỏa thuận. Do đó, bạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 37. Đồng thời, bạn phải tuân thủ về thời hạn báo trước cho công ty biết theo điểm a khoản 2 Điều 37 là 3 ngày. Trường hợp bạn không báo trước thì việc đơn phương chấm dứt lao động của bạn là trái pháp luật thì theo Điều 43 Bộ luật lao động:

>> Xem thêm:  Có phải đền bù, truy thu lương khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) ?

"1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này".

Như vậy, khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì bạn sẽ không được trợ cấp thôi việc, đồng thời phải bồi thường nửa tháng tiền lương. Nếu bạn vi phạm thời hạn báo trước thì phải bồi thường khoản tiền tương ứng với tiền lương trong những ngày không báo trước. Đồng thời phải hoàn trả chi phí đào tạo (nếu có).

Theo quy định của Bộ luật lao động thì khi đơn phương chấm dứt hợp đông lao động trái pháp luật bạn chỉ có những nghĩa vụ quy định tại Điều 43, do đó, về vấn đề bàn giao hàng hóa mà công ty bắt bạn phải đền bù là không đúng theo quy định của pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!                                  

Trân trọng./.                                  

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động.

>> Xem thêm:  Người lao động viết bản cam kết bồi thường nếu tự ý chấm dứt hợp đồng thì sau này có phải tuân thủ ?