Căn cứ vào tính chất và mức độ can thiệp của nhà nước vào đời sống kinh tế, cạnh tranh được chia thành cạnh tranh tự do và cạnh tranh có sự điều tiết của nhà nước:

1. Cạnh tranh tự do

Cạnh tranh tự do là hình thức cạnh tranh thoát khỏi mọi sự can thiệp của nhà nước.

Trong thời kì đầu của chủ nghĩa tư bản (khoảng thế kỉ XVIII) cùng với chủ nghĩa tự do trong thương mại, lí thuyết tự do cạnh tranh đã ra đời chống lại những nguy cơ can thiệp từ phía công quyền vào đời sống kinh doanh, để tạo môi trường cho chủ nghĩa tư bản phát triển. Các quan điểm về tự do cạnh tranh ra đời vào thời kì giá cả tự do lên xuống theo sự chi phối của quan hệ cung cầu, của các thế lực thị trường, nó đã khuyến khích và tạo điều kiện cho sự sáng tạo của con người trong kinh doanh chống lại những quan điểm cổ hủ của tư tưởng phong kiến trọng nông.

Lí thuyết về cạnh tranh tự do đưa ra mô hình cạnh tranh mà ở đó các chủ thể kinh doanh tham gia cuộc tranh đua hoàn toàn chủ động, tự do ý chí trong việc xây dựng và thực hiện các chiến lược, các ké hoạch kinh doanh của mình. Cạnh tranh tự do cùng với quan điểm bàn tay vô hình do nhà kinh tế học người Scotland - Adam Smith (1723 - 1790) đưa ra. Theo ông, sự phát triển kinh tế phải tuân thủ quy luật kinh tế khách quan tự phát và luôn có sự điều tiết của bàn tay vô hình vào hoạt động của thị trường. Adam Smith cho rằng sự tự do, tự nó đã sản sinh ra hệ thống điều tiết các quan hệ và các lợi ích thị trường. Trong khi chạy theo lợi ích cá nhân cùa mỗi nhà kinh doanh thì có “bàn tay vô hình” buộc con người phải thực hiện nhiệm vụ không nằm trong dự kiến là đáp ứng lợi ích xã hội. Bởi vậy, cạnh tranh tự do tự nó đã tạo ra những quyền lực cần thiết để điều tiết và phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu, do đó nhà nước không cần can thiệp sâu vào đời sống thị trường. Việc nhà nước can thiệp vào hoạt động kinh tế sẽ không có lọi cho sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và làm giảm bớt sự tăng trưởng của cải của nền kinh tế quốc dân.

Lí thuyết về cạnh tranh tự do của Adam Smith được các nhà kinh tế học như Erich Hopmann, Schumpeter, Milton Friedman phát triển thành các trường phái khác nhau. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội cho thấy các quan hệ kinh doanh ngày càng có sự đan xen của nhiều dạng lợi ích nên quan điểm về bàn tay vô hình trong việc điều tiết cạnh tranh trên thương trường ngày càng trở nên khó được chấp nhận. Mô hình tự do cạnh tranh ngày nay đã không còn là mô hình lí tưởng được áp dụng trong thực tế.

2. Cạnh tranh có sự điều tiết của nhà nước

Cạnh tranh có sự điều tiết của nhà nước là hình thức cạnh tranh được can thiệp bằng căc chính sách cạnh tranh của nhà nước để điều tiết, hướng các quan hệ cạnh tranh vận động và phát triển theo trật tự nhất định, bảo đảm tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng.

Nền kinh tế thị trường càng phát triển thì những thủ pháp cạnh tranh trong kinh doanh ngày càng đa dạng, phong phú. Chúng giúp cho doanh nghiệp hoạt động tốt hơn, xã hội phát triển hơn. Tuy nhiên, bên cạnh ưu thế của cạnh tranh thì quá trình cạnh tranh cũng làm nảy sinh không ít các hành vi làm hạn chế cạnh tranh, dẫn đến thủ tiêu cạnh tranh. Do đó, xã hội và thị trường cần phải có “bàn tay hữu hình”, có quyền lực đứng trên các chủ thể kinh doanh sử dụng các công cụ và chính sách hữu hiệu để khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường, để bảo vệ cạnh tranh.

Đe ngăn chặn, trừng phạt những hành vi xâm hại đến trật tự công bằng của thị trường, khôi phục lợi ích chính đáng bị xâm hại bởi hành vi phản cạnh tranh, từ những năm đầu của thế kỉ XIX, các nhà nước tư bản đã có quy định để xử lí các hành vi không lành mạnh trong cạnh tranh. Sau đó, khi nền kinh tế tư bản chuyển sang giai đoạn phát triển tư bản độc quyền thì lí thuyết về cạnh tranh có sự điều tiết của nhà nước được các nhà kinh tế học và luật học phát triển thêm một bước.

>> Xem thêm:  Cạnh tranh không lành mạnh là gì ? Khái niệm về cạnh tranh không lành mạnh ?

Đến nay, đa sổ các nước đều thừa nhận tính đúng đắn của mô hình cạnh tranh có sự -điều tiết của nhà nước. Một vấn đề quan trọng của mô hình cạnh tranh này là nhà nước phải xác định chính xác mức độ, công cụ và phương pháp can thiệp của mình vào môi trường cạnh tranh để vừa bảo vệ cạnh tranh vừa khắc phục những khuyết tật của cạnh tranh đồng thời không can thiệp thô bạo vào thị trường, đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các chủ thể.

Căn cứ vào đặc tính, cấu trúc của thị trường (bao gồm sô lượng người mua và bấn, loại hàng hoá được sản xuất, bản chất của rào cản gia nhập thị trường), các nhà kinh tế học chùi cạnh tranh thành cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền, cạnh tranh mang tính độc quyền và độc quyền nhóm:

3. Cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition)

Cạnh tranh hoàn hảo (còn được gọi là cạnh tranh thuần túy (Pure Competition) là hình thức cạnh tranh diễn ra trên thị trường có những đặc tính sau:

- Có sự tham gia của nhiều người bán và nhiều người mua trên thị trường, thị phần của người bán và khả năng tiêu thụ của người mua đều nhỏ đến mức không ai có đủ sức mạnh tác động tới giá cả sản phẩm.

- Sản phẩm do những người bán cung ứng không có sự khác biệt dẫn đen các sản phẩm trên thị trường được bán ở cùng một mức giá. Giá cả sản phẩm trên thị trường được hình thành khách quan thông qua quan hệ cung cầu và không chịu sự tác động của các chủ thể tham gia thị trường.

Trong hình thức cạnh tranh này, các chủ thể kinh doanh là người tiếp nhận giá chứ không phải là người đặt giá và có thể bán bất cứ lượng sản phẩm nào họ muốn tại mức giá thị trường hiện tại.

- Các chủ thể kinh doanh tự do gia nhập và rút lui khỏi thị trường. Trên thị trường cạnh ttanh hoàn hảo không có rào cản của việc gia nhập cũng như rời bỏ khỏi thị trường.

Cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trong mô hình thị trường cạnh tranh hoàn hảo và là thị trường lí tưởng cho cạnh tranh. Thị trường cạnh tranh hoàn hảo mang tính lí thuyết do các nhà kinh tế đưa ra dựa trên những điều kiện giả định và không tồn tại trong thực tế. Tuy nhiên, có thể tìm thấy hình thức cạnh tranh gần như hoàn hảo trên thị trường rau tươi, sữa bò tươi...

>> Xem thêm:  Cạnh tranh là gì ? Khái niệm về cạnh tranh ? Bản chất của cạnh tranh là gì ?

4. Độc quyền (Monopoly)

Độc quyền tồn tại trên thị trường có những đặc trưng sau:

- Chỉ có chủ thể duy nhất cung ứng hoặc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường mà không cổ sản phẩm thay thế cùng loại gần giong với nó. Trên thị trường độc quyền chỉ có chủ thể kinh doanh duy nhất tồn tại mà không có đối thủ cạnh tranh. Doanh nghiệp độc quyền có thể độc quyền nguồn cung (độc quyền bán) hoặc độc quyền cầu (độc quyền mua). Trong hai trường hợp độc quyền này, trên thị trường doanh nghiệp độc quyền đều có sức mạnh thị trường và có khả năng khống chế ý chí của khách hàng, tước bỏ khả năng lựa chọn của khách hàng buộc họ phải giao dịch với doanh nghiệp độc quyền.

- Doanh nghiệp độc quyền là người quyết định giá sản phẩm đối với loại mặt hàng nhất định. Họ có thể nâng giá hoặc hạ giá sản phẩm để thu được lợi nhuận độc quyền lớn nhất.

- Rào cản gia nhập thị trường rất lớn làm cho các doanh nghiệp khác rất khó khăn hoặc không thể tham gia thị trường được.(1)

Ở hầu hết các nước đang phát triển, các tiện ích công cộng như thị trường điện, nước sinh hoạt, vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt là những ví dụ về thị trường độc quyền vì chỉ có một doanh nghiệp là chủ thể cung ứng duy nhất ưên địa bàn nhất định và không cố những sản phẩm thay thế gần nhất.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến độc quyền, đó là:

1) Độc quyền hình thành từ quá trình cạnh tranh (độc quyền tự nhiên). Với tư cách là kết quả của quá trình cạnh tranh, độc quyền được tạo ra bởi sự tích tụ dần theo cơ chế lợi nhuận và các nguồn lực thị trường cứ tích tụ dần vào doanh nghiệp đã chiến thắng. Cứ như thế, sự bồi đắp qua thời gian cho doanh nghiệp chiến thắng, và sự ra đi của những doanh nghiệp thất bại đã hình thành nên thế lực độc quyền;

2) Độc quyền hình thành từ yêu cầu của công nghệ sản xuất hoặc yêu cầu về quy mô tối thiểu của ngành kinh tế kĩ thuật. Theo đó, trong những ngành kinh tế nhất định, tồn tại các yêu cầu về tiêu chuẩn kĩ thuật hoặc yêu cầu về quy mô đầu tư, mà chỉ những nhà đầu tư nào đáp ứng được yêu càu về công nghệ hoặc về số vốn đầu tư tối thiểu đó mới có thể đầu tư kinh doanh có hiệu quả. Những điều kiện về công nghệ và về vốn tối thiểu đã loại bỏ dần những người không đủ khả năng, rút cuộc chỉ có một nhà đầu tư nào đó có thể đáp ứng được và thị trường đã trao cho người đủ điều kiện vị trí độc quyền. Trong trường hợp này dơanh nghiệp duy nhất có thể sản xuất mức sản lượng đủ cho thị trường với chi phí thấp nhất. Một ví dụ tiêu biểu cho việc hình thành độc quyền theo cách này là ở thị trường cung cấp nước sạch của nhiều nước trên thế giới. Để cung cấp nước cho dân cư ở một địa phương, doanh nghiệp phải xây dựng hệ thống mạng lưới ống dẫn trong toàn bộ địa phương đó. Do đó, nếu hai hay nhiều doanh nghiệp cạnh tranh nhau trong cung cấp dịch vụ này, thì mỗi doanh nghiệp phải ttả một khoản chi phí cố định để xây dựng mạng lưới ống dẫn. Mặt khác, với mức sản lượng nước nhất định cung cấp cho dân cư ở địa phương đó thì việc tồn tại nhiều doanh nghiệp sẽ dẫn đến mức sản lượng của mỗi doanh nghiệp thấp hơn, chi phí sản xuất cao hơn chỉ một doanh nghiệp hoạt động trên thị trường;

>> Xem thêm:  Tư vấn pháp luật về bán phá giá và cạnh tranh lành mạnh giữa doanh nghiệp?

3) Độc quyền hình thành từ sự bảo hộ của nhà nước (bao gồm bảo hộ bằng các quyết định hành chính cho các doanh nghiệp của nhà nước và bảo hộ các đối tượng thuộc sở hữu công nghiệp);

4) Độc quyền do sự tích tụ tập trung kinh tế. Tập trung kinh tế diễn ra thông qua việc sáp nhập, hợp nhất mua lại hoặc liên doanh và những hình thức khác có thể hình thành doanh nghiệp độc quyền.

Sự tồn tại của doanh nghiệp độc quyền tạo ra những ưu điểm đồng thời cũng gây thiệt hại cho nền kinh tế. Bởi doanh nghiệp độc quyền có tiềm lực kinh tế nên có khả năng tập trung mọi nguồn lực thị trường để đầu tư, phát triển, nghiên cứu công nghệ, thực hiện các dự án đầu tư đòi hỏi vổn lớn. Tuy nhiên, sự xuất hiện của độc quyền làm triệt tiêu cạnh tranh và gây hậu quả xấu cho xã hội như: 1) Doanh nghiệp độc quyền rất dễ đặt ra mức giá cao để bóc lột người tiêu dùng; 2) Độc quyền có thể là nguyên nhân gây lãng phí cho xã hội bằng các chi phí mà doanh nghiệp đặt ra để củng cố và duy trì độc quyền; 3) Độc quyền tạo ra sức ỳ cho bản thân doanh nghiệp độc quyền, điều này thể hiện khá rõ trên thị trường mà doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí độc quyền.

5. Cạnh tranh không hoàn hảo (Imperfect Competition)

Cạnh tranh không hoàn hảo diễn ra trong thị trường có sự khuyết đi của một trong các yếu tố của cạnh tranh hoàn hảo. Trong thực tế, cạnh tranh không họàn hảo là hình thức cạnh tranh phổ biến trên thị trường, ở nhiều lĩnh vực, nhiều ngành kinh tế. Trong thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, do thiếu điều kiện để sự hoàn hảo tồn tại nên mỗi thành viên của thị trường đều có sức mạnh nhất định đủ để tác động đến giá cả của sản phẩm theo những mức độ nhất định.

Kinh tế học chia cạnh tranh không hoàn hảo thành 2 loại: Cạnh tranh mang tính độc quyền và độc quyền nhóm.

Cạnh tranh mang tính độc quyền (Monopolistic Competition)

Là hình thức cạnh tranh tồn tại trên thị trưởng có những đặc trưng sau:

- Có số lượng lớn người bán và người mua

>> Xem thêm:  Phân tích nguồn của pháp luật cạnh tranh Việt Nam hiện nay ?

- Các sản phấm của người bán về cơ bản là giống nhau và có thể thay thế cho nhau song những sản phẩm này có sự khác biệt về hình dáng, kích thước, chất lượng, nhãn mác.

- Trên thị trường tồn tại một số mức giá do doanh nghiệp đưa ra bởi mỗi doanh nghiệp có sức mạnh đổi với sản phẩm của mình bằng sự dị biệt hoá về sản phẩm. Trên thị trường cạnh tranh mang tính độc quyền, doanh nghiệp không tham gia cạnh tranh về giá trên thị trường này bởi ảnh hưởng đến cầu của một công ti có mức giá thấp là không đáng kể. Thay vào đó, doanh nghiệp sẽ thực hiện các chiến lược cạnh tranh phi giá cả bằng cách dị biệt hoá sản phẩm để thu hút khách hàng.

- Không có rào cản tham gia thị trường. Các doanh nghiệp tự do gia nhập và rút lui khỏi thị trường.

Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, những thị trường hàng hoá tiêu dùng quay vòng nhanh như xà phòng, thuốc đánh răng, mĩ phẩm, sản phẩm may mặc, đồ gia dụng... là những thị trường cạnh tranh mang tính độc quyền vì trên thị trường này tồn tại nhiều sản phẩm có thể thay thế cho nhau trong quá trình sử dụng.

Độc quyền nhóm (Oligopolistic Competition)

Là hình thức trung gian giữa cạnh tranh mang tính độc quyền và độc quyền, tồn tại trên thị trường có đặc trưng sau:

- Chỉ có một sổ ít doanh nghiệp bán hoặc sản xuất sản phẩm nào đó, nên họ chiếm hầu hết các nguồn cung trên thị trường. Đây là thị trường mang tính tập trung cao.

- Các doanh nghiệp trong thị trường này đều có thể biết các đối thủ cạnh tranh có thể phản ứng như thế nào trước chiến lược kinh doanh của mình. Do đó, các doanh nghiệp trên thị trường này, thường có khả năng đồng thuận về giá và sản lượng.

- Các doanh nghiệp trong thị trường này có xu hướng sản xuất số lượng lớn hàng hoá có nhãn hiệu để đa dạng dòng sản phẩm nên cạnh tranh dưới hình thức phi giá cả (như tạo ra sự trung thành của khách hàng đối với một nhãn hiệu) và củng cố cạnh tranh với chi phí quảng cáo cao.

- Sự tham gia thị trường của đối thủ cạnh tranh là khó khăn do rào cản gia nhập thị trường là rất lớn.

>> Xem thêm:  Phân tích yếu tố hiệu lực của Luật cạnh tranh hiện nay ?

Độc quyền nhóm thường gây ra những ảnh hưởng đáng kể đến giá cả thị trường và sự quyết định giá của doanh nghiệp khác. Trong thị trường độc quyền nhóm, hoạt động của mỗi công ti phụ thuộc vào động thái của các công ti khác và phải xem xét kĩ lưỡng hành động của các công ti khác trên thị trường trước khi đưa ra bất cứ hành động nào. Trong thị trường độc quyền nhóm, cạnh tranh có thể bị suy yếu vì các doanh nghiệp có thể thấy trước được lợi thế khi họ cấu kết để hành động như doanh nghiệp độc quyền.

Tình trạng độc quyền nhóm thường xuất hiện tại những thị trường chỉ có một số lượng nhỏ doanh nghiệp có tiềm lực tài chính và khả năng công nghệ mới có thể tham gia đầu tư, ví dụ như: Cung cấp dịch vụ viễn thông, cung cấp dịch vụ vận chuyển hàng không...

Căn cứ vào tính chất của các phương thức cạnh tranh, cạnh tranh được chia thành cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh:

6. Cạnh tranh lành mạnh

Là hình thức cạnh tranh công khai, công bằng và ngay thẳng giữa các đối thủ cạnh tranh trong kinh doanh/n Cạnh tranh lành mạnh là những hoạt động nhằm thu hút khách hàng mà pháp luật không cấm, phù hợp với tập quán thương mại và đạo đức kinh doanh truyền thống như: nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, đổi mới phương thức giao tiếp với khách hàng hạ giá bán hàng hoá trên cơ sở đổi mới công nghệ, giảm chi phí sản xuất, chi phí lưu thông, đầu tư nghiên cứu và phát triển sản xuất kinh doanh... Hình thức cạnh tranh lành mạnh luôn là mong muốn của các doanh nghiệp kinh doanh chân chính, của nhà nước và của xã hội nhằm đem lại hiệu quả tối ưu cho sự phát triển kinh tế của đất nước và có lợi cho người tiêu dùng.

Cạnh tranh lành mạnh không phải là một khái niệm luật định bởi các hành vi cạnh tranh do các doanh nghiệp tiến hành rất phong phú, đa dạng nên pháp luật không thể liệt kê hành vi nào là cạnh‘tranh lành mạnh. Tuy nhiên, các nhà khoa học đã có sự thống nhất khi cho rằng, cạnh tranh lành mạnh phải đảm bảo các tiêu chí sau:

- Có mục đích thu hút khách hàng;

- Tuân theo các quy định của pháp luật;

- Tôn trọng truyền thống, tập quán kinh doanh, đạo đức kinh doanh;

>> Xem thêm:  Sự hình thành và phát triển pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam ?

- Cạnh tranh bằng tiềm năng vốn có của doanh nghiệp.

7. Cạnh tranh không lành mạnh

Là phương thức cạnh tranh được các doanh nghiệp thực hiện bởi những cách thức không lành mạnh nhằm mục đích gây phản cạnh tranh như ấn định giá bất hợp lí với khách hàng, sắp đặt mức giá thấp hơn giá thị trường để loại bỏ đối thủ, quảng cáo, khuyến mại với mục đích lôi kéo khách hàng của đối thủ, liên kết với nhau để hạn chế cạnh tranh...

Cạnh tranh không lành mạnh có thể được nhằm vào những đối thủ cụ thể hay nhằm vào lợi ích của trật tự kinh tế nên có thể làm hạn chế khả năng cạnh tranh vốn có của các đối thủ cạnh tranh, cũng có thể làm hạn chế cũng như triệt tiêu cạnh tranh và như vậy cũng có nghĩa là triệt tiêu động lực phát triển kinh tế, xâm hại lợi ích của cả cộng đồng và xã hội. Do đó, phương thức cạnh tranh không lành mạnh cần phải được ngăn cản và trừng trị.

8. Hành vi hạn chế cạnh tranh là gì ?

Căn cứ vào tác động bất lợi của hành vỉ cạnh tranh gây ra đối với môi trường cạnh tranh, pháp luật của một số nước đã chia cạnh tranh thành hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh:

- Hành vi hạn chế cạnh tranh hình thành từ những thủ đoạn lũng đoạn thị trường của các tập đoàn kinh tế tư bản độc quyền ở Hoa Kỳ vào cuối thế kỉ XIX và luôn hướng tới việc hình thành sức mạnh thị trường hoặc lạm dụng sức mạnh thị trường làm cho tình trạng cạnh ưanh trên thị trường bị bóp méo. Sự biến dạng cạnh tranh có thể làm thay đổi cấu trúc thị trường thay đổi tương quan cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, làm cản trở, giảm sức ép cạnh tranh trên thị trường. Hành vi hạn chế cạnh tranh thường gây hậu quả xấu cho toàn bộ thị trường và người tiêu dùng trên thị trường đó. Thông thường hành vi hạn chế cạnh tranh gồm 4 dạng hành vi:

+ Thoả thuận hạn chế cạnh tranh

>> Xem thêm:  Luật cạnh tranh là gì ? Khái niệm, đặc trưng của pháp luật cạnh tranh

+ Lạm dụng vị trí thống lĩnh

+ Lạm dụng vị trí độc quyền

+ Tập trung kinh tể

- Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi của doanh nghiệp nhằm mục đích cạnh tranh trái với chuẩn mực đạo đức, đi ngược với thông lệ thiện chí, trung thực trong kinh doanh. Những hành vi này phát sinh trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đã đẩy cạnh tranh lên quá mức bằng những thủ đoạn thái quá gây thiệt hại cho đối thủ hoặc bộ phận người tiêu dùng.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật cạnh tranh, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật cạnh tranh - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Vai trò, ý nghĩa của cạnh tranh là gì ? Chính sách nhà nước cạnh tranh