Luật sư hướng dẫn:

Đối với các chủ thể tham gia các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm cơ quan có thẩm quyền xử phạt có thể phạt tiền tối đa đến 10% tổng doanh thu của doanh nghiệp có hành vi vi phạm trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm nhưng thấp hơn mức phạt tiền thấp nhất đối với các hành vi vi phạm được quy định trong Bộ luật hình sự (Xem: Khoản 1 Điều 111 Luật cạnh tranh năm 2018).

Hiện nay, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đã có quy định về Tội vi phạm quy định về cạnh tranh, theo đó, một số loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đã chính thức bị hình sự hóa và quy định các mức phạt cụ thể (Xem: Điều 217 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hậu quả pháp lí của việc thực hiện các thoả thuận hạn chế cạnh tranh cũng được pháp luật cạnh tranh của nhiều nước quy định. Theo kinh nghiệm của nhiều nước, tất cả các thoả thuận bị cơ quan quản lí cạnh tranh kết luận là vi phạm luật cạnh tranh đều vô hiệu. Ngoài ra, các bên vi phạm còn chịu mức phạt tiền lên tới 10% tổng doanh thu (tại từng nước hoặc trên toàn thế giới) của doanh nghiệp đó đối với từng năm vi phạm. Pháp luật một số nước như Anh, Pháp, Mỹ, Cộng hoà Ireland... còn xử lí hình sự đối với các cá nhân là lãnh đạo của doanh nghiệp vi phạm đối với những trường hợp nghiêm trọng.

Ví dụ, các thoả thuận ấn định giá, hạn chế sản lượng, phân chia thị trường, thông đồng ttong đấu thầu). Các tổ chức, cá nhân (kể cả người tiêu dùng) chịu thiệt hại trực tiếp từ thoả thuận hạn chế cạnh tranh có quyền khởi kiện tại toà án để đòi bồi thường thiệt hại. Cuối cùng, nhằm tăng cường hiệu quả của công tác phát hiện, điều tra và xử lí các thoả thuận hạn chế cạnh tranh, đặc biệt là các thoả thuận theo chiều ngang (cartels), pháp luật cạnh tranh các nước còn đưa ra quy định về chính sách khoan hồng, theo đó, nhà nước dành quyền miễn trừ hoặc giảm nhẹ các chế tài đối với các thành viên tham gia các - ten chủ động khai báo, cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh sự tồn tại của Các - ten và hợp tác với cơ quan điều tta trong suốt quá trình điều tta. Bản chất của các thoả thuận này là bí mật, do đó, việc điều tra, phát hiện những thoả thuận này thường rất khó khăn và tốn kém nếu không có sự hợp tác của các thành viên các - ten. Hiện nay Liên minh châu Âu và các quốc gia như Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Australia, Trung Quốc... đã và đang áp dụng chính sách này trong cuộc chiến chống các - ten. Kinh nghiệm của các quốc gia này cho thấy chính sách khoan hồng sau khi ra đời đã khẳng định được vai trò quan trọng của nó trong việc hỗ trợ cơ quan điều tra phát hiện và xử lí các - ten.

Về chế định khoan hồng, hiện nay, Luật cạnh tranh năm 2018 của Việt Nam đã quy định chính sách khoan hồng trong xử lí các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm.

Theo đó, doanh nghiệp tự nguyện khai báo giúp ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phát hiện, điều tra và xử lí hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm được miễn hoặc giảm mức xử phạt theo chính sách khoan hồng. Để được hưởng chính sách khoan hồng, doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

- Đã hoặc đang tham gia với vai trò là một bên của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh;

- Tự nguyện khai báo hành vi vi phạm trước khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định điều tra;

- Khai báo trung thực và cung cấp toàn bộ các thông tin, chứng cử có được về hành vi vi phạm, có giá trị đáng kể cho việc phát hiện, điều tra và xử lí hành vi vi phạm;

>> Xem thêm:  Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có vi phạm luật sở hữu trí tuệ không ?

- Hợp tác đầy đủ với cơ quan có thẩm quyền trong suốt quá trình điều tra và xử lí hành vi vi phạm.

Cần lưu ý rằng, theo pháp luật cạnh tranh của Việt Nam thì chính sách khoan hồng áp dụng cho không quá 03 doanh nghiệp đầu tiên nộp đơn xin hưởng khoan hồng đến ủy ban Cạnh tranh Quốc gia đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên và việc xác định doanh nghiệp được hưởng khoan hồng căn cứ vào thứ tự khai báo; thời điểm khai báo; và mức độ trung thực và giá trị của các thông tin, chứng cứ đã cung cấp. Trong mọi trường hợp, chính sách khoan hồng không áp dụng đối với doanh nghiệp có vai trò ép buộc hoặc tổ chức cho các doanh nghiệp khác tham gia thỏa thuận.

Về nguyên tắc, doanh nghiệp đầu tiên có đơn xin hưởng khoan hồng và đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên được miễn 100% mức phạt tiền; doanh nghiệp thứ hai và thứ ba có đơn xin hưởng khoan hồng và đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên lần lượt được giảm 60% và 40% mức phạt tiền.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật cạnh tranh, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật cạnh tranh - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Điều tra vụ việc cạnh tranh theo thủ tục tố tụng cạnh tranh ?