1. Các trường hợp được xem xét hoãn thi hành án dân sự
Căn cứ theo quy định tại khoản 21 Điều 1 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi 2014 quy định về các trường hợp được Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án trong các trường hợp sau đây:
- Người phải thi hành án bị ốm nặng, có xác nhận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên; bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án;
- Chưa xác định được địa chỉ của người phải thi hành án hoặc vì lý do chính đáng khác mà người phải thi hành án không thể tự mình thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định;
- Đương sự đồng ý hoãn thi hành án; việc đồng ý hoãn thi hành án phải lập thành văn bản ghi rõ thời hạn hoãn, có chữ ký của đương sự; trong thời gian hoãn thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác;
- Tài sản để thi hành án đã được Tòa án thụ lý để giải quyết theo quy định tại Điều 74 (quy định về xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án) và Điều 75 (quy định về giải quyết tranh chấp, yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án) Luật Thi hành án dân sự 2008; tài sản được kê biên theo Điều 90 (quy định về kê biên, xử lý tài sản đang cầm cố, thế chấp) Luật Thi hành án dân sự 2008 nhưng sau khi giảm giá theo quy định mà giá trị bằng hoặc thấp hơn chi phí và nghĩa vụ được bảo đảm;
- Việc thi hành án đang trong thời hạn cơ quan có thẩm quyền giải thích bản án, quyết định và trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 170 và khoản 2 Điều 179 Luật Thi hành án dân sự 2008;
- Người được nhận tài sản, người được giao nuôi dưỡng đã được thông báo hợp lệ 02 lần về việc nhận tài sản, nhận người được nuôi dưỡng nhưng không đến nhận;
- Việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án theo quy định tại Điều 54 Luật Thi hành án dân sự 2008 chưa thực hiện được vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;
- Tài sản kê biên không bán được mà người được thi hành án không nhận để thi hành án theo quy định tại khoản 3 Điều 104 (quy định về xử lý tài sản không có người tham gia đấu giá, bán đấu giá không thành) Luật Thi hành án dân sự 2008.
Lưu ý:
- Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chỉ ra quyết định hoãn thi hành án theo quy định tại mục (1) và (2) trong trường hợp người phải thi hành án phải tự mình thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định.
- Trường hợp đương sự có tài sản khác ngoài trường hợp quy định tại mục (4) thì cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đó để thi hành án.
2. Đang xem xét kháng nghị giám đốc thẩm có được hoãn THADS
Khi bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật nhưng bên có nghĩa vụ không tự nguyện thực hiện thì người được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thi hành án dân sự và thi hành bản án này.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định hoãn thi hành án. Một trong những trường hợp đó là cơ quan thi hành án nhận được văn bản yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Cụ thể, tại khoản 2 Điều 48 Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định của toà án chỉ được yêu cầu hoãn thi hành án một lần để xem xét kháng nghị nhằm tránh hậu quả không thể khắc phục được.
Thời hạn hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định là không quá 3 tháng, kể từ ngày ra văn bản yêu cầu hoãn thi hành án. Trong thời gian hoãn thi hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án.
Quy định này xuất phát từ việc, nếu bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm sẽ dẫn đến khả năng có thể bị hủy hoặc bị sửa. Lúc này, nếu việc thi hành án đã được thực hiện xong, việc khôi phục hiện trạng ban đầu sẽ là rất khó khăn và tốn kém thời gian, chi phí.
Tuy nhiên, hiện nay các quy định pháp luật về thi hành án chưa có hướng dẫn cụ thể cho những trường hợp nào có thể phát sinh "hậu quả không thể khắc phục được", mà phụ thuộc vào nhận định chủ quan của những người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm.
3. Một số bất cập trong hoãn thi hành án dân sự
- Bất cập giữa quy định của pháp luật về thời hạn xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm và thi hành án dân sự.
Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự 2008 quy định, bản án có hiệu lực pháp luật là có hiệu lực thi hành án. Tại Quyết định số 273/QĐ-TCTHADS ngày 22 tháng 02 năm 2017 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự, ban hành Quy trình, quy định việc phân công nhiệm vụ tổ chức thi hành án dân sự thì việc thụ lý thi hành án và các bước triển khai thực hiện đến thời điểm ra quyết định thi hành án tổng cộng chỉ từ 7 đến 12 ngày.
Theo quy định tại Điều 334 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là 05 năm nếu trong vòng 03 năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật đương sự đã có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục Giám đốc thẩm nhưng sau khi hết thời hạn 03 năm đương sự vẫn tiếp tục có đơn đề nghị và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 326 Bộ luật Tố tụng Dân sự, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, của người thứ ba, xâm phạm đến lợi ích của cộng đồng, lợi ích của nhà nước và phải kháng nghị để khắc phục sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó..
- Bất cập trong việc ràng buộc thực hiện thẩm quyền yêu cầu hoãn
Theo các quy định pháp luật hiện hành, người có thẩm quyền kháng nghị có quyền yêu cầu hoãn để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Điều này được hiểu rằng, chỉ khi có căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm thì người có thẩm quyền kháng nghị bản án có hiệu lực của Tòa án mới có công văn yêu cầu Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự hoãn thi hành án. Tuy nhiên, pháp luật cho phép thời hạn nộp đơn yêu cầu giám đốc thẩm của công dân là “…ba năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật đương sự đã có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục Giám đốc thẩm” (Điều 334 BLTTDS 2015). Trong khoảng thời gian 3 năm đó đương sự có thể nộp đơn bất cứ thời điểm nào, giả sử đến 2 năm 9 tháng đương sự mới nộp đơn thì đến thời điểm người có thẩm quyền quyết định rằng: có căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm thì có thể vụ án đã được thi hành do đó quy định về hoãn thi hành án dân sự của pháp luật không được thực hiện trọn vẹn cũng như quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức không được đảm bảo.
Xem thêm: Hoãn thi hành án dân sự là gì ? Căn cứ, thời hạn hoãn thi hành án dân sự ?
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Các trường hợp được xem xét hoãn thi hành án dân sự mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!