- 1. Giới thiệu
- 2. Công ước về bảo vệ quyền con người và các quyền tự do cơ bản (1950)
- 3. Hiến chương xã hội châu Âu
- 4. Công ước châu Âu về ngăn ngừa tra tấn và các hình thức đối xử hạ nhục và phi nhân tính khác
- 5. Đạo luật cuối cùng của Helsinki
- 6. Hiến chương châu Âu về các ngôn ngữ khu vực và thiểu số (1992)
1. Giới thiệu
Để bảo đảm và bảo vệ quyền con người các nước châu Âu đã thông qua nhiều văn kiện pháp lý quan trọng:
- Công ước về bảo vệ quyền con người và các quyền tự do cơ bản (1950) và 14 Nghị định thư bổ sung
- Hiến chương xã hội châu Âu (1961) sửa đổi năm 1991 và 1996 và các Nghị định thư bổ sung năm 1988 và 1995
- Công ước châu Âu về ngăn ngừa tra tấn và các hình thức đối xử hạ nhục và phi nhân tính khác (1987)
- Đạo luật cuối cùng của Helsinki (1975) và chu trình tiếp theo của CSCE/OSCE với Hiến chương Paris về châu Âu mối (1990)
- Hiến chương châu Âu về các ngôn ngữ khu vực và thiểu số (1992)
- Công ước khung về bảo vệ các quốc gia thiểu số (1994)
- Hiến chương về các quyền cơ bản của Liên minh châu Âu (2000)
2. Công ước về bảo vệ quyền con người và các quyền tự do cơ bản (1950)
Công ước châu Âu về Nhân quyền, tên chính thức là Công ước bảo vệ Nhân quyền và các quyền Tự do căn bản (tiếng Anh: Convention for the Protection of Human Rights and Fundamental Freedoms) là một hiệp ước quốc tế nhằm bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do căn bản ở châu Âu. Công ước được soạn thảo năm 1950 bởi Ủy hội châu Âu mới được thành lập thời đó, Công ước này có hiệu lực từ ngày 3.9.1953. Mọi nước thành viên của Ủy hội châu Âu đều là các bên ký kết Công ước và các thành viên mới được mong đợi sẽ phê chuẩn Công ước khi có cơ hội sớm nhất.
Công ước này lập ra Tòa án Nhân quyền châu Âu. Bất cứ ai cảm thấy nhân quyền của mình bị xâm phạm bởi các nước ký kết Công ước đều có thể đưa vụ việc ra tòa án nói trên. Các phán quyết về những vi phạm nhân quyền buộc các nước liên quan phải có nghĩa vụ thi hành. Uỷ ban Bộ trưởng của Ủy hội châu Âu giám sát việc thi hành các phán quyết này, đặc biệt để đảm bảo việc thanh toán cho nguyên đơn số tiền bồi thường thiệt hại mà họ đã phải chịu, do Tòa án nhân quyền quyết định. Việc lập một tòa án để bảo vệ các cá nhân khỏi bị vi phạm nhân quyền là một đặc điểm mới cho một công ước quốc tế về nhân quyền, vì nó cho cá nhân vai trò tích cực trên trường quốc tế (theo truyền thống, chỉ các quốc gia mới được coi là chủ thể trong công pháp quốc tế). Công ước này hiện vẫn còn là thỏa ước quốc tế về nhân quyền duy nhất đưa ra việc bảo vệ cá nhân ở mức độ cao nhất như vậy. Các nước ký kết cũng có thể kiện các nước ký kết khác ra tòa án nói trên, tuy quyền này hiếm khi được dùng tới.
Công ước châu Âu về Nhân quyền có nhiều Nghị định thư. Ví dụ Nghị định thư 13 cấm án tử hình. Các nghị định thư chấp nhận khác biệt giữa các nước ký kết Công ước Nhân quyền, mặc dù có sự hiểu ngầm rằng các nước ký kết công ước cũng nên ký kết nhiều Nghị định thư nếu có thể được.
Công ước được thiết kế để đưa cách tiếp cận các quyền tự do dân sự truyền thống vào nhằm đảm bảo "nền dân chủ chính trị hiệu quả", từ những truyền thống mạnh nhất ở Vương quốc Anh, Pháp và các nước thành viên khác của Ủy hội châu Âu non trẻ. Công ước được đưa ra ký kết ngày 4.11.1950 ở Roma. Nó được phê chuẩn và có hiệu lực từ ngày 3.9.1953. Công ước được giám sát bởi Tòa án Nhân quyền châu Âu ở Strasbourg và Ủy hội châu Âu. Cho đến gần đây, Công ước cũng được giám sát bởi một Ủy ban Nhân quyền châu Âu.
3. Hiến chương xã hội châu Âu
Hiến chương xã hội châu Âu là một hiệp ước của Ủy hội châu Âu được chấp thuận năm 1961 và được sửa đổi năm 1996. Hiến chương sửa đổi có hiệu lực từ năm 1999 và thay thế dần dần Hiến chương năm 1961. Hiến chương đặt ra nhân quyền cùng các quyền tự do và thiết lập một cơ chế giám sát để đảm bảo sự tôn trọng Hiến chương của các bên ký kết.
Hiến chương bảo đảm các quyền và tự do liên quan tới tất cả các cá nhân trong cuộc sống hàng ngày của họ.
Các quyền cơ bản được quy định trong Hiến chương như sau: nhà ở, y tế, giáo dục, việc làm, bảo vệ luật pháp và xã hội, tự do di chuyển của mọi người và không phân biệt đối xử.
Các bên quốc gia ký kết Hiến chương phải nộp các báo cáo hàng năm về một phần của các quy định của Hiến chương (có thể là Hiến chương 1961 hoặc Hiến chương sửa đổi năm 1996), cho thấy cách thức họ thực hiện các quy định này trong pháp luật và trong thực tế. Uỷ ban châu Âu về quyền xã hội là cơ quan chịu trách nhiệm giám sát việc tuân thủ của các bên ký kết Hiến chương.
Ủy ban châu Âu về quyền xã hội gồm 15 ủy viên độc lập, không thiên vị do Ủy ban bộ trưởng bầu ra cho một thời hạn 6 năm và có thể được tái cử một lần.
Theo Nghị định thư bổ sung năm 1995 đưa ra một hệ thống các khiếu nại tập thể có hiệu lực vào năm 1998. Các khiếu nại về các vụ vi phạm Hiến chương có thể nộp cho Ủy ban châu Âu về quyền xã hội.
Một số tổ chức có quyền nộp các khiếu nại cho Ủy ban châu Âu về quyền xã hội (một danh sách đặc biệt của các tổ chức phi chính phủ đã được lập ra, gồm các tổ chức phi chính phủ được hưởng cương vị tham gia với Ủy hội châu Âu). Ủy ban sẽ xem xét khiếu nại và - nếu các đòi hỏi chính thức đã được đáp ứng - thì sẽ tuyên bố chấp nhận khiếu nại đó.
4. Công ước châu Âu về ngăn ngừa tra tấn và các hình thức đối xử hạ nhục và phi nhân tính khác
Công ước phòng chống Tra tấn của châu Âu tên đầy đủ là Công ước phòng chống Tra tấn và Trừng phạt hoặc Đối xử vô nhân đạo hoặc làm mất phẩm giá (tiếng Anh: European Convention for the Prevention of Torture and Inhuman or Degrading Treatment or Punishment) được các nước thành viên của Ủy hội châu Âu thông qua trong cuộc họp tại Strasbourg ngày 26.11.1987. Sau đó Công ước này đã được tu chính bởi 2 nghị định thư có hiệu lực vào ngày 1 tháng 3 năm 2002.
Việc giám sát sự tuân thủ các quy định của Công ước là nhiệm vụ của Ủy ban phòng chống Tra tấn của châu Âu do Công ước này lập ra.
Sau Công ước châu Âu về Nhân quyền thì Công ước phòng chống Tra tấn được nhiều người coi là một trong số các hiệp ước quan trọng nhất của Ủy hội châu Âu. Công ước này đã được tất cả 47 nước thành viên của Ủy hội châu Âu phê chuẩn, và việc phê chuẩn Công ước này là điều kiện tiên quyết cho mọi nước mới gia nhập Ủy hội châu Âu trong những năm gần đây.
5. Đạo luật cuối cùng của Helsinki
Với nhiều tên gọi như Hiệp định Helsinki, Đạo luật Helsinki cuối cùng, hoặc Tuyên bố Helsinki (tiếng Phần Lan: Helsingin päätösasiakirja, tiếng Thụy Điển: Helsingforskonferensen) là hành động cuối cùng của Hội nghị về an ninh và hợp tác ở châu Âu được tổ chức tại Tòa nhà Finlandia của Helsinki, Phần Lan, trong tháng 7 và 1 tháng 8 năm 1975. Ba mươi lăm quốc gia, bao gồm Hoa Kỳ, Canada, và tất cả các quốc gia châu Âu, ngoại trừ Albania và Andorra đã ký tuyên bố trong một nỗ lực cải thiện quan hệ giữa Cộng sản và phương Tây. Tuy nhiên, Hiệp ước Helsinki không bị ràng buộc vì nó không có tư cách hiệp ước.
"Tuyên bố về nguyên tắc hướng dẫn nguyên tắc của các hiệp hội giữa các nước tham gia" của Hiệp ước Helsinki (còn được gọi là "The Decalogue") liệt kê 10 điểm sau:
- Bình đẳng chủ quyền, tôn trọng các quyền vốn có trong chủ quyền
- Không bị đe dọa hoặc sử dụng vũ lực
- Bất khả xâm phạm các biên giới
- Toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia
- Giải quyết tranh chấp hòa bình
- Không can thiệp vào công việc nội bộ
- Tôn trọng quyền con người và quyền tự do cơ bản, bao gồm tự do tư tưởng, lương tâm, tôn giáo hoặc niềm tin
- Quyền bình đẳng và quyền tự quyết của người
- Hợp tác giữa các quốc gia
- Thực hiện tốt đức tin nghĩa vụ theo luật pháp quốc tế
6. Hiến chương châu Âu về các ngôn ngữ khu vực và thiểu số (1992)
Các Hiến chương Châu Âu về Ngôn ngữ Khu vực hoặc Ngôn ngữ thiểu số (ECRML) được thông qua vào năm 1992 dưới sự bảo trợ của Hội đồng Châu Âu để bảo vệ và phát huy khu vực và Ngôn ngữ thiểu số trong Châu Âu. Việc chuẩn bị cho điều lệ đã được thực hiện bởi người tiền nhiệm cho đến nay Đại hội các chính quyền địa phương và khu vực, Hội nghị thường trực các chính quyền địa phương và khu vực của châu Âu vì sự tham gia của chính quyền địa phương và khu vực là rất cần thiết. Điều lệ thực tế được viết trong Quốc hội nghị viện dựa trên Khuyến nghị của Quốc hội. Nó chỉ áp dụng cho ngôn ngữ truyền thống được sử dụng bởi công dân của các Quốc gia thành viên (do đó không bao gồm các ngôn ngữ được sử dụng bởi Những người nhập cư từ các tiểu bang khác, hãy xem ngôn ngữ nhập cư), khác biệt đáng kể so với phần lớn hoặc Ngôn ngữ chính thức (do đó, loại trừ những gì quốc gia thành viên muốn coi là phương ngữ địa phương đơn thuần của ngôn ngữ chính thức hoặc ngôn ngữ đa số) và có cơ sở lãnh thổ (và do đó, theo truyền thống được nói bởi dân cư của các khu vực hoặc khu vực trong Tiểu bang) hoặc được sử dụng bởi các nhóm ngôn ngữ thiểu số trong phạm vi toàn Bang (do đó bao gồm các ngôn ngữ như Yiddish, Romani và Lemko, được sử dụng trên một khu vực địa lý rộng).
Một số quốc gia, chẳng hạn như Ukraine và Thụy Điển, đã gắn tình trạng của ngôn ngữ thiểu số với các dân tộc thiểu số được quốc gia công nhận, vốn được xác định bởi các tiêu chí dân tộc, văn hóa và / hoặc tôn giáo, do đó phá vỡ quan niệm của Hiến chương về ngôn ngữ thiểu số.
Hiến chương cung cấp nhiều hành động mà các quốc gia thành viên có thể thực hiện để bảo vệ và thúc đẩy các ngôn ngữ lịch sử của khu vực và dân tộc thiểu số. Có hai cấp độ bảo vệ — tất cả các bên ký kết phải áp dụng mức độ bảo vệ thấp hơn cho các ngôn ngữ đủ điều kiện. Các bên ký kết có thể tuyên bố thêm rằng một ngôn ngữ hoặc các ngôn ngữ đủ điều kiện sẽ được hưởng lợi từ mức độ bảo vệ cao hơn, trong đó liệt kê một loạt các hành động mà từ đó các quốc gia phải đồng ý thực hiện ít nhất 35.