Về chia tài sản chúng tôi tự thỏa thuận.Tài sản là mảnh đất có diện tích là 314 mét vuông do bố mẹ tôi cho và đã làm hợp đồng tặng cho đứng tên cả 2 vợ chồng. Vợ chồng tôi chỉ xây nhà trên đất đó. Theo pháp luật hiện tại, tôi muốn hỏi :

- Bây giờ vợ tôi muốn được chia đất vậy vợ tôi có được quyền đòi chia đất đó không ? Nếu có thì sẽ chia như thế nào ?

- Gia đình tôi muốn vợ tôi nhận tiền và chuyển đi chỗ khác. Trường hợp này sẽ phân chia thành tiền như thế nào cho hợp lí ?

- Tôi có dự định tháng 3 năm tới tôi đi lao động nước ngoài, tôi để cho ông bà nội nuôi và chăm sóc cháu thay tôi. Lúc này vợ tôi có quyền đòi hỏi nuôi con hay không ?

- Hiện tại tôi muốn tự thỏa thuận để chia. vợ tôi không đồng ý theo thỏa thuận nhưng lại cũng không muốn đưa đơn lên tòa yêu cầu phân chia tài sản. Vậy tôi phải làm gì để giải quyết vấn đề cho đúng pháp luật.

Xin cảm ơn !

Luật sư tư vấn:

Để làm rõ từng nội dung vướng mắc của Qúy khách hàng, Luật Minh Khuê sẽ phân tích và trả lời từng câu hỏi cụ thể của Qúy khách như sau:

Câu hỏi 1: Bây giờ vợ tôi muốn được chia đất vậy vợ tôi có được quyền đòi chia đất đó không? Nếu có thì sẽ chia như thế nào?

Theo thông tin Qúy khách cung cấp, Tài sản là mảnh đất có diện tích là 314 mét vuông do bố mẹ Qúy khách cho và đã làm hợp đồng tặng cho đứng tên cả 2 vợ chồng Qúy khách. Vợ chồng Qúy khách chỉ xây nhà trên đất đó.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin ly hôn bản cập nhật mới nhất năm 2021 ? Hướng dẫn cách viết đơn xin ly hôn

Tài sản này, bao gồm Nhà và đất được xác định là tài sản chung của hai vợ chồng vì:

Theo quy định tại tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Thứ nhất, được bố mẹ Qúy khách làm hợp đồng tặng cho cả hai vợ chồng.

Thứ hai, hiện tại hai vợ chồng Qúy khách đang đứng tên Quyền sử dụng đất.

Hiện tại, ngoài các văn bản trên nếu không còn bất kỳ văn bản nào chứng minh đây là tài sản riêng của người chồng hoặc tài sản riêng của người vợ thì tài sản Nhà đất này được xác định là tài sản chung của vợ chồng Qúy khách. Vì vậy, người vợ có quyền yêu cầu phân chia tài sản.

Việc phân chia tài sản phải đảm bảo theo nguyên tắc quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau:

- Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

- Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

- Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

>> Xem thêm:  Thuận tình ly hôn nhưng làm mất giấy chứng nhận kết hôn?

- Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Câu hỏi 2. Gia đình tôi muốn vợ tôi nhận tiền và chuyển đi chỗ khác. Trường hợp này sẽ phân chia thành tiền như thế nào cho hợp lí ?

Trường hợp này, Qúy khách và vợ Qúy khách nên thỏa thuận với nhau. Nếu người vợ đồng ý, hai bên có thể xác định giá trị đất và ngôi nhà, sau đó Qúy khách là bên trực tiếp sử dụng sẽ hoàn lại một phần tiền tương đương với giá trị mà người vợ được hưởng theo nguyên tắc chia đôi như đã phân tích ở câu hỏi 1. Trường hợp hai bên tiến hành thỏa thuận, hai bên nên lập biên bản thỏa thuận có công chứng hoặc chứng thực.

Câu hỏi 3. Tôi có dự định tháng 3 năm tới tôi đi lao động nước ngoài, tôi để cho ông bà nội nuôi và chăm sóc cháu thay tôi. Lúc này vợ tôi có quyền đòi hỏi nuôi con hay không?

Theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014

"Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ."

Vợ Qúy khách có thể yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Tòa án sẽ xem xét yêu cầu đó và giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

- Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

- Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Do đó, nếu có những căn cứ trên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Trường hợp không có căn cứ trên, Tòa án không thay đổi người trực tiếp nuôi con dù có yêu cầu của người vợ.

Câu hỏi 4. Hiện tại tôi muốn tự thỏa thuận để chia. Vợ tôi không đồng ý theo thỏa thuận nhưng lại cũng không muốn đưa đơn lên tòa yêu cầu phân chia tài sản. Vậy tôi phải làm gì để giải quyết vấn đề cho đúng pháp luật.

>> Xem thêm:  Con 7 tuổi có quyền lựa chọn ở với bố hoặc với mẹ khi bố mẹ ly hôn không ?

Trường hợp phân chia tài sản, Luật hôn nhân và gia đình luôn khuyến khích các bên tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp, vợ Qúy khách không muốn tự thỏa thuận, cũng không đồng ý yêu cầu Tòa án giải quyết thì hai vợ chồng Qúy khách có thể yêu cầu văn phòng/Công ty Luật tư vấn và giải thích cho hai bên hiểu và lựa chọn phương hướng thỏa thuận phù hợp nhất.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi vềTư vấn hôn nhân”. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và hồ sơ do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để quý khách tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn!

Bộ phận tư vấn Pháp luật - Công ty Luật TNHH Minh

>> Xem thêm:  Quy định của pháp luật về ly thân và thủ tục ly hôn ? Quyền dành nuôi con sau khi ly hôn ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình ở nước ta được quy định như thế nào?

Trả lời:

hế độ hôn nhân và gia đình là toàn bộ những quy định của pháp luật về kết hôn, ly hôn; quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và những vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình (Khoản 3 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014).

Câu hỏi: Để bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, Nhà nước ta cấm thực hiện những hành vi nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập, thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

Cấm các hành vi sau đây:

– Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

– Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

– Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

– Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

– Yêu sách của cải trong kết hôn;

– Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;

– Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;

– Bạo lực gia đình;

– Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi.

Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Câu hỏi: . Xử lý việc kết hôn trái pháp luật được quy định như thế nào?

Trả lời:

Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình.

Theo Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì xử lý việc kết hôn trái pháp luật được quy định như sau:

Xử lý việc kết hôn trái pháp luật được Tòa án thực hiện theo quy định tại Luật hôn nhân và gia đình, pháp luật về tố tụng dân sự.

Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn.

Quyết định của Tòa án về việc hủy kết hôn trái pháp luật hoặc công nhận quan hệ hôn nhân phải được gửi cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch; hai bên kết hôn trái pháp luật; cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.