1. Căn cứ tính giá đất bồi thường khi thu hồi đất ?

Kính chào luật sư! Tôi hiện tại đang có một thửa ruộng bị nhà nước thu hồi. Tôi đang băn khoăn là Bảng giá đất của tỉnh hay là giá đất cụ thể sẽ là căn cứ để tính giá đất bồi thường ?
Tôi rất mong được luật sư giải đáp. Tôi trân thành cám ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai qua điện thoại, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Bảng giá đất, khung giá đất được ban hành định kỳ 5 năm một lần tại các tỉnh, thành phố, mục đích ban hành bảng giá đất, khung giá đất và giá đất cụ thể được Luật đất đai năm 2013 quy định cụ thể như sau:

"Điều 114. Bảng giá đất và giá đất cụ thể

1. Căn cứ nguyên tắc, phương pháp định giá đất và khung giá đất, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng và trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua bảng giá đất trước khi ban hành. Bảng giá đất được xây dựng định kỳ 05 năm một lần và công bố công khai vào ngày 01 tháng 01 của năm đầu kỳ.

Trong thời gian thực hiện bảng giá đất, khi Chính phủ điều chỉnh khung giá đất hoặc giá đất phổ biến trên thị trường có biến động thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh điều chỉnh bảng giá đất cho phù hợp.

Trước khi trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua bảng giá đất ít nhất 60 ngày, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi dự thảo bảng giá đất đến cơ quan có chức năng xây dựng khung giá đất xem xét, trường hợp có chênh lệch lớn về giá đất giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định.

2. Bảng giá đất được sử dụng để làm căn cứ trong các trường hợp sau đây:

a) Tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất ở của hộ gia đình, cá nhân đối với phần diện tích trong hạn mức; cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở đối với phần diện tích trong hạn mức giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân;

b) Tính thuế sử dụng đất;

c) Tính phí và lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai;

d) Tính tiền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;

đ) Tính tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và sử dụng đất đai;

e) Tính giá trị quyền sử dụng đất để trả cho người tự nguyện trả lại đất cho Nhà nước đối với trường hợp đất trả lại là đất Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất có thu tiền sử dụng đất, đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê.

3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể. Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức việc xác định giá đất cụ thể. Trong quá trình thực hiện, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh được thuê tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất để tư vấn xác định giá đất cụ thể.

Việc xác định giá đất cụ thể phải dựa trên cơ sở điều tra, thu thập thông tin về thửa đất, giá đất thị trường và thông tin về giá đất trong cơ sở dữ liệu đất đai; áp dụng phương pháp định giá đất phù hợp. Căn cứ kết quả tư vấn xác định giá đất, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh trình Hội đồng thẩm định giá đất xem xét trước khi trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định.

Hội đồng thẩm định giá đất gồm Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm Chủ tịch và đại diện của cơ quan, tổ chức có liên quan, tổ chức có chức năng tư vấn xác định giá đất.

4. Giá đất cụ thể được sử dụng để làm căn cứ trong các trường hợp sau đây:

a) Tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân đối với phần diện tích đất ở vượt hạn mức; cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở đối với phần diện tích vượt hạn mức giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân. Tính tiền thuê đất đối với đất nông nghiệp vượt hạn mức giao đất, vượt hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân;

b) Tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất; công nhận quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức mà phải nộp tiền sử dụng đất;

c) Tính tiền thuê đất đối với trường hợp Nhà nước cho thuê đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất;

d) Tính giá trị quyền sử dụng đất khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước mà doanh nghiệp cổ phần sử dụng đất thuộc trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; tính tiền thuê đất đối với trường hợp doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm;

đ) Tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất..."

Như vậy theo quy định trên thì Giá đất cụ thể được sử dụng để làm căn cứ tính tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.

>> Xem thêm:  Ủy ban nhân dân xã có thẩm quyền bán đất không ? UBND xã có quyền xác nhận giao dịch mua bán đất ?

2. Thủ tục thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như thế nào ?

Thưa luật sư! Gia đình tôi có vụ việc sau, rất mong quý luật sư giúp đỡ tư vấn giúp. Ông nội tôi có hơn 6 sào đất ở. Năm 1995 ông bà nội tôi không ủy quyền cho bất kỳ ai, hay chuyển quyền, cho, tặng, hay mua bán theo quy định của pháp luật, mà mẹ tôi cũng không thực hiện kê khai Đăng ký quyền sử dụng đất mãi đến năm 2013 gia đình tôi mới biết mình có Sổ đỏ.

Một phần diện tích nằm trong thửa đất được cấp của gia đình tôi được ông nội tôi đứng lên phân chia cho bác tôi, và bác tôi đã xây nhà. Nay bác tôi muốn đứng lên xin được cấp sổ đỏ, nhưng mẹ tôi không đồng ý, Bà nội tôi cùng các bác cô tôi đứng lên khiếu nại việc cấp sổ đỏ của gia đình tôi, và được cơ quan chức năng ra quyết định thu hồi. Cho tôi xin hỏi quyết định hành chính của cơ quan chức năng thu hồi đất đã được cấp sổ đỏ như vậy có đúng theo quy đinh của pháp luật không. Rât mong luật sư tư vấn và giúp đỡ gia đình chúng tôi.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Căn cứ tính giá đất bồi thường khi thu hồi đất

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 thì:

Điều 106. Đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp

1. Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm đính chính Giấy chứng nhận đã cấp có sai sót trong các trường hợp sau đây:

a) Có sai sót thông tin về tên gọi, giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân, địa chỉ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất so với giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận của người đó;

b) Có sai sót thông tin về thửa đất, tài sản gắn liền với đất so với hồ sơ kê khai đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất đã được cơ quan đăng ký đất đai kiểm tra xác nhận.

2. Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:

a) Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên Giấy chứng nhận đã cấp;

b) Cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp;

c) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

3. Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều này do cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Điều 105 của Luật này quyết định sau khi đã có kết luận của cơ quan thanh tra cùng cấp, văn bản có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai.

Như vậy theo quy định trên thì cơ quan thẩm quyền có thể thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong các trường hợp tại khoản 2 Điều 106 Luật đất đai. Vì vậy, cơ quan chức năng thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là có cơ sở theo quy định của pháp luật.

>> Xem thêm:  Mua bán đất bị nhầm lẫn thì giải quyết thế nào ? Hướng dẫn mua bán đất chưa có sổ đỏ ?

3. Có được chuyển đất thừa lúc thu hồi được không ?

Thưa luật sư! Cho tôi hỏi về luật đất đai đền bù giải phóng mặt bằng. Cách đây 3 năm nhà tôi có con đường của nhà nước chạy qua. Và nhà nước đã đền bù và cấp đất ở một nơi khác. Nhưng đất nhà cũ của tôi vẫn còn thừa ở hai bên khoảng 600m2. Giờ gia đình tôi muốn cắt 600m2 đất về nơi nhà mới có được không ạ. Và cách chuyển đất như thế nào, được không ạ ?
Xin chân thành cảm ơn!

Có được chuyển đất thừa lúc thu hồi được không ?

Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

- Căn cứ khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013:

11. Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai.

- Căn cứ Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP:

Điều 6. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở

Việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở quy định tại Điều 79 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc bồi thường về đất được thực hiện như sau:

a) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư;

b) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.

2. Trường hợp trong hộ gia đình quy định tại Khoản 1 Điều này mà trong hộ có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở thu hồi thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và tình thực tế tại địa phương quyết định mức đất ở, nhà ở tái định cư cho từng hộ gia đình.

3. Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này mà không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc bằng nhà ở tái định cư thi được Nhà nước bồi thường bằng tiền.

4. Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất. Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; giá đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

Như vậy, theo quy định trên thì khi diện tích còn lại nhỏ hơn hạn mức đất ở theo quy định do UBND cấp tỉnh quy định thì khi bạn có yêu cầu nhà nước thu hồi phần diện tích còn lại thì cơ quan có thẩm quyền thu hồi để sử dụng tuy nhiên việc bạn thu hồi đất đã tiến hành 3 năm trước đấy nên hiện tại bạn có yêu cầu cắt đất trên là không được chấp nhận vì việc thu hồi đất được thực hiện theo phải đảm bảo có căn cứ theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên trong trường hợp này bạn có thể thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích đất trên nếu đáp ứng các điều kiện theo Điều 188 Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội:

"Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này.

3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính."

>> Xem thêm:  Phương thức thanh toán việc mua đất ? Thủ tục mua bán đất đai thực hiện như thế nào ?

4. Hỏi về việc đền bù khi thu hồi đất lưu không ?

Thưa luật sư! Gia đình e có mua đất cách đây gần 20 năm, do ủy ban nhân dân xã bán đất, có giấy mua bán. nhưng gia đình e lại không biết đó là đất lưu không. Và hiện tại bây giờ gia đình em đang thi công xây nhà 3 tầng thì UBND xã lại gọi vào liên tục và ra cả gia đình bắt gia đình kí vào giấy không được thi công, nếu không kí sẽ dỡ công trình nhà em.

Nhưng gia đình em nghĩ mình mua đất rồi, lại không biết là đất lưu không thì gia đình em phải được phép xây dựng chứ? Vậy cho em hỏi: UBND xã làm như vậy là đúng hay sai? Gia đình em vẫn tiếp tục được thi công chứ? Và nếu như sau này có quy hoạch đất đó, gia đình em sẽ được đền bù theo giá trị cả đất và nhà hay sao ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hỏi về việc đền bù khi thu hồi đất lưu không?

Luật sư tư vấn:

Khái niệm "đất lưu không" là một khái niệm tự phát mà không được quy định trong hệ thống văn bản luật đất đai hiện hành. Đất lưu không là chỉ phần đất thuộc hành lang an toàn giao thông, an toàn lưới điện, đê điều... Đó là phần đất có quy hoạch làm đất phục vụ cho công trình công cộng nhưng chưa được sử dụng. Người sử dụng đất chỉ có thể tạm thời sử dụng khi Nhà nước chưa sử dụng đến chứ không có quyền sử dụng.

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 về thẩm quyền giao đất có quy định như sau:

Điều 59. Thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất

3. Ủy ban nhân dân cấp xã cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.

Như vậy, việc UBND cấp xã bán cho gia đình bạn phần đất lưu không là không đúng thẩm quyền của họ. Như vậy gia đình bạn có thể khiếu nại và yêu cầu bồi thường hoàn trả lại số tiền đã mua đất. Vì đây là đất lưu không nên bạn không thể xây dựng trên đất này. Và đất đó khi quy hoạch sẽ không được bồi thường

>> Xem thêm:  Mua đất bằng giấy viết tay nhưng đã bị mất giấy tờ mua bán ? Mua đất chỉ thỏa thuận qua lời nói ?

5. Thực tiễn áp dụng pháp luật về điều kiện thu hồi sổ đỏ ?

Tháng 4-2010, vợ chồng bà Nguyễn Thị Dung và ông Nguyễn Kiên Thịnh (ngụ phường 13, quận Tân Bình, TP.HCM) mua một lô đất 62m2 tại phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân giá 585 triệu đồng. Vợ chồng bà Dung đã đăng bộ và được cấp sổ đỏ mang tên mình vào tháng 6-2010. Bỗng nhiên đến tháng 9-2010, gia đình bà nhận được thư mời của UBND phường Bình Hưng Hòa mời đến làm việc vì khu đất mà bà mua có tranh chấp.

Mua đất có giấy tờ hợp pháp, đã được sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), nhưng người mua bỗng rơi vào rắc rối do sai sót của chủ đất cũ và của chính quyền.

Cấp nhầm đất

Người tranh chấp với bà Dung là ông Mai Văn Lâm. Theo ông Lâm, năm 2005 ông và ông Nguyễn Đắc Linh cùng thỏa thuận mua hai lô đất sát cạnh nhau tại phường Bình Hưng Hòa. Lô đất của ông Lâm có diện tích 70m2 (4,5 x 15,5m), còn lô đất của ông Linh chỉ có 60m2 (4 x 15m). Do mua bán bằng giấy tay nên lúc mua cả hai được chủ đất dẫn đến hiện trạng đất bàn giao và chỉ ranh đất với nhau. Sau khi mua đất, ông Linh bán lại cho bà Nguyễn Thị Miên cũng bằng giấy tay.
Năm 2009, bà Miên hoàn thành thủ tục xin cấp giấy chứng nhận trước và bán lại cho vợ chồng bà Dung. Khi ông Lâm đi làm thủ tục cấp giấy mới hay lô đất của mình đã được cấp nhầm cho bà Miên. Khi UBND phường Bình Hưng Hòa mời các bên đến làm việc và hòa giải thì không bên nào chịu nhường bên nào. Ông Lâm và bà Miên đều cho rằng lô đất của mình là lô 33 (theo bản đồ hiện trạng đất của phường). Bà Miên nói lúc mua đất của ông Linh, bà được hướng dẫn ranh đất thế nào thì lúc làm giấy tờ hướng dẫn đo vẽ như thế.

Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số:  - 1900.6162

Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số: 1900.6162


UBND phường đã lập biên bản hòa giải không thành vụ tranh chấp giữa các bên.Có thể nói việc tranh chấp về ranh đất là giữa ông Lâm với bà Miên liên quan quá trình hợp thức hóa, cấp sổ đỏ của những lô đất mua giấy tay trước đó. Còn việc mua đất của bà Dung là diễn ra sau này, khi bà Miên đã có được giấy chứng nhận hợp pháp để chuyển nhượng cho bà Dung. Tuy nhiên, trong cuộc làm việc ngày 16-10, bà Dung lại được phường thông báo (ghi trong biên bản làm việc) là: phải nộp lại giấy đỏ cho phường, để phường lập hồ sơ đề nghị quận thu hồi vì giấy đó đã cấp sai, trùng ranh đất của ông Lâm.

Quận đã thiếu trách nhiệm

Theo luật sư Lê Đình Phạt – Đoàn luật sư TP.HCM, quá trình mua đất của bà Dung là hợp pháp nên quyền lợi của bà Dung phải được đảm bảo. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Dung sau này là trên cơ sở hợp đồng công chứng chuyển nhượng đất, khi UBND quận cấp giấy đỏ cho bà Dung thì đã tiến hành thu hồi giấy chứng nhận đã cấp cho bà Miên trước đây. Chính vì vậy, nếu cho rằng giấy đỏ của bà Miên có sai sót, phải thu hồi thì cũng không thể thực hiện được.Luật sư Lê Đình Phạt cho rằng tranh chấp trong trường hợp trên không thể giải quyết bằng quyết định hành chính của UBND các cấp mà phải do tòa án quyết định. Trên cơ sở xem xét toàn bộ nội dung vụ kiện, tòa án sẽ phán quyết ranh đất của từng lô đất. Dựa trên bản án của tòa, cơ quan hành chính sẽ cấp lại giấy đỏ cho các lô đất có tranh chấp. Quyền lợi, trách nhiệm bồi thường giữa các bên trong tranh chấp cũng phải do tòa án quyết định mới là hợp pháp.
Vẫn theo luật sư Lê Đình Phạt, trong vụ cấp giấy đỏ trùng ranh, nhầm ranh trên đây, cơ quan cấp giấy chứng nhận đã thiếu trách nhiệm: “Đồng ý là chủ đất có trách nhiệm chỉ ranh đất, hướng dẫn đo vẽ nhưng bản vẽ phải được bộ phận nghiệp vụ thẩm định lại. Không thể có tình trạng chủ đất chỉ chỗ nào là đất được cấp giấy chứng nhận chỗ ấy mà cơ quan cấp giấy phải xem xét toàn bộ hồ sơ hợp thức hóa, đối chiếu với bản đồ đất đai của địa phương mình”.Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho người dân phải đảm bảo đầy đủ pháp lý, đúng quy định. Khi có quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận, người dân có thể tự định đoạt, sang nhượng lại cho người khác. Không thể để tình trạng người mua đất hợp pháp như bà Dung mà vẫn hồi hộp vì bị dọa thu hồi đất hoặc nguy cơ đối diện với vụ kiện tụng tại tòa.

Dân chỉ đất đâu, phường cấp giấy đó!

Trao đổi với chúng tôi, ông Phan Văn Phong – phó chủ tịch UBND phường Bình Hưng Hòa – cho biết có tiếp nhận giải quyết hồ sơ vụ tranh chấp lô đất 33 trên đây. Qua làm việc, phường nhận thấy đã có sai sót trong cấp giấy chứng nhận lô đất số 33 cho bà Miên. Trong việc cấp giấy đỏ cho đất chưa có giấy tờ, chủ đất phải có trách nhiệm chỉ ranh giới lô đất. Nếu chủ đất hướng dẫn ranh đất sai, lấn sang ranh của người khác thì phải chịu trách nhiệm. Trường hợp phát hiện giấy chứng nhận cấp sai thì phường sẽ đề nghị quận (cơ quan cấp giấy) thu hồi giấy đã cấp để cấp lại cho đúng. Ông Phong cũng cho biết có rất nhiều trường hợp người mua đất mua giấy tay, sau đó xin hợp thức hóa thì phát hiện bị mua bán trùng ranh, trùng lô đất. Trong quá trình tiếp nhận giải quyết khiếu nại của người dân, phường đã phát hiện giấy đỏ được cấp có sai sót phải lập hồ sơ đề nghị quận thu hồi, hủy bỏ. Tuy nhiên, ông Phong cũng thừa nhận chưa có trường hợp nào đã chuyển nhượng cho bên thứ ba như vụ của bà Dung. Chính vì vậy, sau khi xem xét lại hồ sơ khiếu nại của các bên, ông Phong cho biết sẽ hướng dẫn các bên khởi kiện ra tòa án.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Quy định của pháp luật đất đai về việc tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ? Điều kiện thu hồi đất