1. Cấu trúc quản trị nội bộ trong công ty cổ phần

Cấu trúc hội đồng kép theo Luật công ty của Đức có hai đặc điểm quan trọng nhất: (i) cấu trúc quản trị - điều hành có hai hội đồng theo thứ bậc {two-tier board model), và (ii) có thể có sự tham gia nhất định cùa đại diện người lao động vào hội đồng phía trên {co-determinatỉorì). cấu trúc quàn trị nội bộ của công ty cổ phần (AG) theo luật Đức gồm có: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng giám sát {Aufsichtsrat) và Hội đồng quản trị {Vorstand). Theo luật của Đức, việc quản lý, điều hành công ty cổ phần được phân chia cho hai cơ quan là Hội đồng giám sát và Hội đồng quản trị như một thiết chế hai tầng mà ở đó Hội đồng giám sát nằm ở tầng trên. Vì thế, giới luật học trên thế giới gọi đây là cấu trúc hội đồng kép {dual board) hay hội đồng hai tầng {two-tier board).
về nguyên tắc, Đại hội đồng cổ đông sẽ bầu chọn thành viên của Hội đồng giám sát. Song, người lao động cũng có quyền lựa chọn thành viên của Hội đồng giám sát theo Đạo luật về sự tham gia của người lao động vào quàn trị công ty nãm 1952 và 1976. Theo đó, tỷ lệ số thành viên của Hội đồng giám sát do người lao động bầu chọn và cổ đông bầu chọn sẽ phụ thuộc vào số lao động của công ty. Đại diện do phía người lao động và cổ đông bầu chọn trong Hội đồng giám sát đều có quyền và nghĩa vụ như nhau. Đối với các công ty cổ phần sử dụng trên 500 lao động, một phần ba tổng số thành viên của Hội đồng giám sát sẽ do phía người lao động bầu chọn. Nêu công ty sử dụng trên 2.000 lao động thì một nửa số thành viên của Hội đồng giám sát phải là đại diện do người lao động và công đoàn bầu chọn, song Chủ tịch của Hội đồng giám sát sẽ phải là người do cổ đông lựa chọn, và người này sẽ cổ lá phiếu quyết định khi số phiếu thuận và phiếu chống bằng nhau (casting vote). Hội đồng giám sát có thẩm quyền chọn, bổ nhiệm, cách chức các thành viên của Hội đồng quản tri (Vorstand). Không những thế, Hội đồng giám sát còn tham gia trực tiếp vào việc đưa ra các quyết định quan trọng trong việc quản trị công ty và giám sát các hoạt động của Hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị thực hiện chức năng điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty. Các thành viên cùa Hội đồng quản trị cùng nhau chịu trách nhiệm về việc điều hành, phát triển chiến lược kinh doanh của công ty trong mối liên hệ thường xuyên và báo cáo thường xuyên với Hội đồng giám sát.
Như vậy, Hội đồng giám sát trong cấu trúc hội đồng hai tầng, ví dụ, theo luật Đức, không giống với Ban kiểm soát hay Hội đồng quản trị trong các công ty cổ phần ở Việt Nam. Bởi lẽ: (i) Ban kiểm soát trong công ty cổ phần ở Việt Nam do Đại hội đồng cổ đông bầu và chỉ có chức năng cơ bản nhất là giám sát công tác quản lý, điều hành của bộ máy quản trị; (ii) Ban kiểm soát không có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các thành viên của bộ máy quản lý, điều hành; (iii) Ban kiểm soát cũng không cỏ chức năng tham gia quyết định các vấn đề quan trọng về quản trị công ty như Hội đồng giám sát theo luật Đức. Hội đồng quản trị theo pháp luật Việt Nam là cơ quan quản lý công ty do Đại hội đồng cổ đông bầu chọn và chỉ bao gồm các thành viên do cổ đông bầu chọn mà thôi. Khác vói ở Đức, người lao động trong các công ty cổ phần ở Việt Nam không có quyền lựa chọn và cử đại diện của mình tham gia Hội đồng quản trị cũng như Ban kiểm soát. Hội đồng quản trị trong các công ty cổ phần ở Việt Nam có thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm Tổng Giám đốc và những chức danh quản lý quan trọng khác trong công ty. Nó cũng giám sát bộ máy điều hành, nhưng nó không có chức năng giám sát rộng như Hội đồng giám sát theo luật Đức vì một phần quyền lực này đã thuộc về Ban kiểm soát của công ty theo luật định. Thêm nữa, thành viên của Hội đồng giám sát theo luật Đức không thể đồng thời có mặt trong Hội đồng quản trị, trong khi thành viên của Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần của Việt Nam thì có thể nắm giữ các chức vụ điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty.
Theo nguồn: Bùi Xuân Hải: So sánh cẩu trúc quản trị nội bộ của công ty cổ phần Việt Nam với các mô hình điển hình trên thế giới, Tạp chí Khoa học pháp lý, 6-2006.

2. Công ty trách nhiệm hữu hạn P?

Công ty trách nhiệm hữu hạn P là chủ sở hữu Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T. Công ty trách nhiệm hữu hạn P bổ nhiệm c làm Giám đốc và là người đại diện theo pháp luật của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T. Giám đốc c có vợ là D (D là chủ sở hữu nhà xưởng X).
Trên danh nghĩa đại diện cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T, Giám đốc c ký hợp đồng thuê nhà xưởng X, tiền thuê: 10 triệu/tháng. c có thể tư lợi bằng cách thông đồng với vợ của mình để nâng giá thuê nhà xưởng (trong khi giá thị trường thấp hơn).
(Sưu tầm)

3. Doanh nghiệp T?

Báo chí đưa tin về sự kiện doanh nghiệp T kinh doanh nước giải khát lớn của Việt Nam có ngụy cơ bị giải thể. Nhìn từ góc độ quản trị doanh nghiệp còn nhiều chuyện đáng bàn.
Cổ nhân có câu “đồng tiền đi liền khúc ruột”. Nhưng trong công ty, người quản lý trong không phải là người bỏ tiền thành lập công ty (chủ sở hữu). Từ đó dễ nảy sinh khả năng chiếm đoạt khối tài sản này làm của riêng mình. Do vậy, nhằm bảo đảm những người quản lý trong công ty làm việc mẫn cán cũng như bảo đảm quyền sở hữu của cổ đông, thông thường pháp luật các nước quy định nhiều nghĩa vụ mà người quản lý phải tuân thủ. Chung quy lại, có hai nghĩa vụ quan ưọng mà người quản lý phải bảo đảm là (i) Nghĩa vụ cẩn trọng và (ii) Nghĩa vụ trung thành. Điều đó có nghĩa phàm làm việc gì, người quản lý cũng phải thực hiện một cách cẩn thận. Cẩn thận được hiểu là những người bình thường trong hoàn cảnh như vậy cũng sẽ thực hiện theo cách thức tương tự mà không làm khác đi.
Trung thành có nghĩa là trong quá trình thực hiện việc quản lý, người quản lý doanh nghiệp phải luôn đặt lợi ích của công ty lên hàng đầu (lưu ý rằng, chữ lợi ích ở đây được hiểu theo nguyên nghĩa là lợi ích hợp pháp).
Tuy vậy, như trên đã nói, người quản lý không phải là cổ đông của công ty. Đồng thời với quá trình thực hiện công việc, họ được hưởng lợi ích từ chính quá trình quản lý của họ.
Tùy theo tình hình, nhu cầu cũng như sự phát triển của kỹ thuật lập pháp mà pháp luật mỗi nước sẽ có những quy định cụ thể nhưng nguyên tắc về quản trị doanh nghiệp đại thể là như vậy.
Cần thấy rằng các nghĩa vụ mà người quản lý phải tuân thủ cũng như quyền lợi mà họ được hưởng luôn được nhìn nhận một cách song hành với nhau. Cụ thể hơn, mục đích của công ty thuê những nhà quản trị giỏi để công ty có thể vận hành tốt, qua đó làm ăn có lãi. Như vậy, khi làm ăn có lãi, việc công ty trích một phần lợi ích mà mình kiếm được để trả công cho người quản trị là việc làm không cần phải bàn cãi. Các cổ đông của công ty cũng sẽ không có ý kiến về việc thưởng cho Giám đốc (nhà quản lý) vì các cổ đông chi bỏ tiền vào công ty, nhưng công khó nhọc quản lý công ty thì họ không phải làm. “Kẻ góp của, người bỏ công” là một hình dung dễ hiểu. Công ty làm ăn có lãi, người quản lý cũng sẽ có lợi. Lợi ích của công ty và lợi ích của người quản lý là một!
Để công ty làm ăn có lãi, người quàn lý phải làm việc rất cẩn thận, lúc nào cũng cố gắng tìm mối lợi cho công ty. Bởi vì, nếu không cẩn trọng, không trung thành, công ty sẽ không có lãi và họ cũng sẽ không được thưởng. Động lực cho quá trình quản lý nghiêm túc, sáng tạo cũng từ đó mà ra. Nhưng khi thực hiện điều này cũng chính là người quản lý đang thực hiện nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho họ. Như vậy, chính cơ chế gắn lợi ích của người quản lý và công ty đã làm quyền và nghĩa vụ cùa người quản lý không tách rời nhau. Nói cách khác, người quản lý không có cảm giác bị ép buộc phải thực hiện nghĩa vụ một cách bắt buộc.
Nhưng cũng chính từ việc Giám đốc không phải là người sở hữu công ty nên có một cách khác để họ hưởng lợi mà không cần phải tuân thủ các nghĩa vụ của người quản lý. Cụ thể, Giám đốc sẽ bằng cách thức khác nhau để biến tài sản của công ty chuyển thành tài sản của mình. Dạng thức của hành vi có thể rất đa dạng, nhưng có thể hình dung việc kiếm lợi của người quản lý bằng cách này thông qua cụm từ “giao dịch nội gián”. Có hai cách để Giám đốc thực hiện các giao dịch này: (i) Tự mình hoặc người thân của mình giao dịch với công ty hoặc (ii) Giúp cho bên thứ ba giao dịch với công ty và hưởng lợi từ bên thứ ba.
Để ngăn ngừa khả năng này, pháp luật cho phép cổ đông có thể khởi kiện đối với người quản lý. Giám đốc sẽ phải bồi thường toàn bộ tổn thất trong trường hợp cồ đông chứng minh được người quản lý vi phạm nghĩa vụ.
Trong vụ việc Công ty Tribeco cần phải làm rõ mấy vấn đề sau:
Việc T đầu tư mua cổ phiếu của một cổ đông lớn của công ty có phải là hành vi đầu tư bình thường hay đây là hành vi “trợ giúp” cho cổ đông? Khi đậu tư mua một lượng lớn cổ phần như vậy, Công ty T sẽ đạt lợi ích gì?
Việc đầu tư chéo và mối quan hệ vay mượn giữa T và các cổ đông có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển của T?
Theo nguồn: Phạm Hoài Huấn: Cú sảy chân của Tribeco và những góc khuất, Báo Dân trí, ngày 15-8-2012.

4. Từ sai lầm chữ nghĩa dẫn đến sai lầm thực hiện?

Trước sự để vỡ của V, nhiều biện pháp cứu chữa đã được thực hiện; nhiều ý kiến đã được đề nghị. V cần phải được phục hồi và phải được điều khiển đủng cách như ở các nước khác người ta làm với một tổ chức như thế. Trong sổ những ý kiến trên, có ỷ kiến cho rằng đáng lẽ V đã phải được quản trị theo các nguyên tắc căn bản của “quản trị công ty” (corporate governance). Ở đây, người viết xỉn góp ý về biện pháp này. Người viết e ngại, nếu làm theo thì chúng ta sẽ phi tiền mà không hiệu quả bao nhiêu, vì nó chưa thích hợp, giong như chủng ta đã biến V thành... tập đoàn vậy.
Doanh nghiệp ở ta, xin so sánh, giống như một cây thông. Giám đốc đầu tiên của nó dùng tiền của Nhà nước. Ở các nước khác, Giám đốc cũng là chủ và dùng tiền của mình; nó là cây đa. Cũng ở đó, cây đa kia đã già cả trăm tuổi. Hơn 20 năm trước đây (năm 1990), chúng ta quyết định trồng cây đa thay cây thông. Vì trồng cây đa với các kiến thức về cây thông, nên các từ ngữ sử dụng cho cây giống nhau, nhưng nội dung của chúng lại bị hiểu khác nhau. Cho nên, cần phải nhìn chữ nghĩa theo ngọn nguồn.
Quản trị và “quản trị”
Để điều khiển một công ty cho nó sinh lời lãi, không bị phá sản vì thiếu tiền mặt trả nợ, ở các nựớc tư bản, người ta dùng từ ngữ “management”. Trước 1975, ở miền Nam, nó được dịch là “quản trị kinh doanh”, hay “quản trị”.
Trong khi đó xí nghiệp quốc doanh ở ta không bị phá sản, nên cho đến trước năm 1990, thuật ngữ tương đương được dùng là “quản lý”. Ngay cả Luật doanh nghiệp năm 199 còn dùng từ “quàn lý” cho Hội đồng quản trị; chỉ trong các giảng văn ở đại học, từ quản trị mới được dùng.
Đe phân biệt từ ngữ và nội dung, xin tạm dùng quản trị (không ngoặc kép) cho “management” và “quản trị” (có ngoặc kép) cho “corporate governance”. Đi sâu hơn nữa, về cách làm và dựa trên nguồn gốc vốn của công ty, ta ghi nhận quản trị thì khác với quản lý.
Quàn trị là một cách điều khiển công ty có tính chất khoa học và ở Hoa Kỳ nó manh nha từ những năm 1910 rồi hoàn thiện vào cuối những năm 1970. Quản trị có ba cấp đi từ thấp lên cao: (i) Giúp sản xuất nhiêu với giá thành rẻ;
(ii) Sản phẩm không thay đổi chất lượng và (iii) Giúp kiểm soát chặt chẽ trên một diện rộng.
Lại xin dùng hình ảnh. Nếu công ty là một chiếc xe chở khách thì quản trị giúp chiếc xe chạy trơn tru. Chẳng những thế nó còn... “đẻ” ra tập đoàn! Từ chạy “ngon”, chiếc xe chạy “hung hăng”! Nhiều người bị thiệt hại: cổ đông bỏ tiền sắm nó; khách hàng ngồi trên xe; nhà cửa ở gần nó...
Cổ đông là người hưởng lợi hay chịu thiệt hại trực tiếp và là “shareholder”; khách đi xe, nhà ở gần cũng bị ảnh hưởng nên họ lâ “stakeholder” (người có quyền lợi). Vì sự kiện ấy nên vào năm 1984, các tổ chức và học giả ở Hoa Kỳ mới đặt vấn đề “corporate governance”. Ấy là “quản trị”.
Năm 199, các nước trong Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra các nguyên tắc về “quản trị”. Riêng ở Hoa Kỳ, sau vụ Enron, thì Quốc hội Hoa Kỳ biến nguyên tắc này thành luật.
“Governance” trong tiếng Anh xuất phát từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “lèo lái”. Người ta quan niệm để cho một con thuyền được lèo lái đến bến an toàn, nó cần có một thuyền trưởng và một thủy thủ đoàn giỏi cộng với những biện pháp tin cậy và những cách đo lường để tính ra chặng đường con thuyền phải vượt qua. Ấy là ý nghĩa căn bản.
Ở đây, ta hiểu nôm na là: xe chạy “hung hăng” thì phải... “bắn tốc độ”. Tác động của “corporate governance” - “quản trị” là như thế!
“Quản trị” trở thành luật tại Vĩệt Nam vào nãm 2007 theo một quyết định cùa Bộ Tài chính. Trước đó nó được du nhập một cách âm thầm qua một bản mẫu điều lệ cho công ty niêm yết do Văn phòng Chính phủ ban hành năm 2002. Dịch corporate governance là “quản trị” là từ quyển sách “Quản trị công ty” do Viện Quản lý kinh tế Trung ưomg ấn hành năm 1998. Đó là bản dịch báo cáo của OECD về “corporate governance” để “nâng cao năng lực cạnh tranh và tiếp cận nguồn vốn trên thị trường toàn cầu”.
Quá trình sinh trưởng của cây đa trăm tuổi trên thế giới đã cho họ đi từ quản trị đến “quản trị”. Cây thông của chủng ta không biết gì về quản trị, mà chỉ về quản lý; còn cây mới trông 20 năm thì đa phần - nhất là các doanh nghiệp nhà nước - cũng chưa áp dụng các phương pháp của quản trị. Công ty ở chúng ta còn giống như những chiếc xe chạy chậm, chưa kể hay bị hỏng (vì mất tiền ở các doanh nghiệp nhà nước, hay mất người ở các doanh nghiệp tư nhân) mà hô hào... bắn tốc độ thì chưa phù hợp. Xe còn chạy ì ạch mà chủ nhân bỏ tiền đi mua súng bắn tốc độ! vấn đề là như thế. Tự hại mình mà không biết! Lý do thực hiện sai lầm là chúng ta lẫn lộn về chữ nghĩa.
Để tránh sự nhầm lẫn về nội dung, từ “quản trị” (“corporate governance”) cần phải thay đổi. Trong quyển sách về công ty của mình, tác giả cuốn sách này dịch nó là “lèo lái” (năm 2002), sau này (năm 2009) là chỉ đạo để phân biệt nó với “quản trị”.
Tiến sĩ Alain Phan, trong một quyển sách về huy động vốn, ông dịch là “kỷ cương công ty”. Là một học giả ở Hoa Kỳ và nhà kinh doanh đã hoạt động trên 40 năm cả ở Hoa Kỳ và Trung Quốc, từ ngữ ông dùng thật chính xác. Chiếc xe chạy cũng phải có kỷ cương; tức là đến khi nào đó thì
phải bắn tốc độ! Tuy nhiên, vấn đề căn bản của đại đa số các doanh nghiệp ở ta hiện nay chưa phải kỷ cương mà là quản trị theo khoa học.
Quăn trị và Kỷ cưong
Hình vẽ ở trên cho thấy sự khác biệt giữa “quản trị” và “kỷ cương”. Kỷ cương là tầng 2, nó tác động lên các bộ phận ở trên, đầu của một công ty. Theo pháp luật nước ta, nó là hệ thống các quy tắc để bảo đảm cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả, vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty. Nó thiết lập những chuẩn mực về hành vi, đạo đức nghề nghiệp của các thành viên Hội đồng quản tri, Ban Giám đốc, Ban kiểm soát và cán bộ quản lý của các công ty.
Các nguyên tắc “quản trị” công ty bao gồm: bảo đảm một cơ cấu quản trị hiệu quả; bảo đảm quyền lợi của cổ đông; đối xử công bằng giữa các cổ đông; bảo đảm vai trò của những người có quyền lợi liên quan đến công ty; minh bạch trong hoạt động của công ty; hội đồng quản trị và ban kiểm soát lãnh đạo và kiểm soát công ty có hiệu quả.
Theó Tiến sĩ Brancato người Mỹ, quy chế này là một hệ thống cho việc kiểm soát và cân bằng (checks and balances) giữa Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc và các nhà đầu tư nhằm tạo nên một công ty hoạt động hữu hiệu, ăn khớp với nhau một cách lý tưởng để tạo nên những giá trị lâu dài.
Kỷ cương là tầng 2 vì nó chỉ xuất hiện sau khi quản trị khoa học đã hoàn thiện. Quản trị là tầng 1. Mục đích của quản trị đã được đề cập ở trên. Nội dung chính của nó được tóm trong khung chữ nhật ở tầng 1 và nó tác động đến các bộ phận, các cấp khác nhau trong nội bộ (phần thân thể) công ty.
Tầng 2 không thể bảo đảm một cơ cấu quản trị hiệu quả nếu tầng 1 quản trị kém cỏi. Tầng 2 cũng không thể làm công việc cùa tầng 1 vì ở đó không có người. Các yêu cầu, các báo cáo mà tầng 2 đòi hỏi phải do tang 1 cung cấp. Tầng 1 hoạt động tốt thì nó phải có các báo cáo đó rồi... cho chính nó. Và nó nộp cho tầng 2.
Các định chế tài chính quốc tế thúc giục chúng ta đẩy mạnh kỷ cương, vì các công ty của nước họ đã làm như thế, và họ nghĩ các công ty ở ta cũng phải làm thì mới “tiếp cận nguồn vốn trên thị trường toàn cầu” được. Đúng!
Nhưng khi thúc đẩy như thế, họ quên cây đa trăm tuổi và cây đa chỉ mới 20 năm và còn èo uột! Vâng, chúng ta nghe họ; nhưng phải nhận ra mình là ai. Và đến đây thì đã thấy ta nên làm gì cho chiếc xe Vỉnashin chứ không phải... bắn tốc độ!
Theo nguồn: Nguyễn Ngọc Bích: Từ sai lầm chữ nghĩa dẫn đến sai lầm thực hiện, Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần, ngày 13-11-2010.

5. Chuyển nhượng quyền mua cổ phần?

Năm 2007, Nhà nước có chủ trương thành lập Ngân hàng thương mại cổ phần Dầu khí thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Cán bộ, công chức trong tập đoàn sẽ được mua cổ phần ưu đãi, số cổ phần được mua được xác định dựa trên thâm niên công tác.
Theo đó, ông A có mua từ bà T một bộ hồ sơ quyền mua cổ phần theo năm công tác đứng tên ông Đ với giá 110.000.000 đồng tiền chênh lệch.
Sau đó, ông A thay mặt ông Đ nộp tiền mua 4.800 cổ phần của Ngân hàng tương ứng với số tiền là 48.480.000 đồng. Sau đó, có thông báo là Ngân hàng không được thành lập nên ông A đã được nhận lại số tiền 48.480.000 đồng. Tuy nhiên, số tiền chênh lệch 110.000.000 đồng bà T không đồng ý trà cho ông A.
Tại phiên tòa bà T khai, năm 2007, bà có mua của bà Tr hợp đồng chuyển nhượng quyền mua cổ phần cùa Ngân hàng Dầu khí mang tên Đ với giá là 100.700.000 đồng và bán lại cho ông A với giá là 110.000.000 đồng.
Do đó, bà T yêu cầu bà Tr trả cho bà số tiền 100.700.000 đồng để bà trả cho ông A.
Trong khi đó, bà Tr trình bày, năm 2007, bà trực tiếp mua bộ hồ sơ quyền mua cổ phiếu ưu đãi của Ngân hàng Dầu khí từ ông Đ với giá 96.900.000 đồng. Sau đó, bà đã bán cho bà T với giá là 100.700.000 đồng. Và tiếp theo, bà T bán cho ai thì bà Tr không biết.
Ông Đ trình bày: ông công tác 19 năm trong ngành Dầu khí. Do đó, khi vợ chồng bà Tr đề xuất ông bán với giá là 5.100.000 đồng/năm công tác, với tổng số tiền là 96.900.000 đồng, hai bên đồng ý thỏa thuận mua đứt bán đoạn, mọi thủ tục vợ chồng bà Tr làm hết, ông Đ chi việc ký. Vì thế, ông không đồng ý trả lại 96.900.000 đồng cho bà Tr vì việc mua bán này hai bên đã thỏa thuận mua đứt bán đoạn, nên việc sau này cổ phiếu có được phát hành hay không thì ông cũng không phải trả lại tiền.
Nguồn: Trích và biên tập lại từ Bản án sổ 139/2012/KDTM-PT ngày 16-4-2012 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền mua cổ phiếu của Tòa phúc thẩm tại Thành phố H..