Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào tính chẫt của mỗi loại đại diện, đương sự được đại diện mà căn cứ chấm dứt mỗi loại đại diện khác nhau.

- Đại diện theo pháp luật của đương sự là pháp nhân chấm dứt khi pháp nhân chấm dứt.

- Đại diện theo pháp luật của dương sự ià cá nhân chấm dứt khi người được đại diện là cá nhân đã thành niên hoặc đã được khôi phục năng lực hành vi dân sự, người đại diện hoặc người được đại diện chết, người đại diện mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế nàng lực hành vi dân sự.

- Đại diện theo uỷ quyền của đương sự là cá nhân chấm dứt trong trường hợp thời hạn uỷ quyền đã hết hoặc công việc được uỷ quyền đã hoàn thành, người uỷ quyền huỷ bỏ việc uỷ quyền hoặc người được uỷ quyền từ chối thực hiện việc uỷ quyền, người uỷ quyền hoặc người được uỷ quyền chết, mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị toà án tuyên bố mất tích hoặc tuyên bổ chết.

’ Đại diện theo uỷ quyền của đương sự là pháp nhân chấm dứt khi thời hạn uỷ quyền đã hết hoặc công việc được uỷ quyền đã hoàn thành, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân huỷ bỏ việc uỷ quyền, pháp nhân chấm dứt.

Trong trường hợp chấm dứt đại diện theo pháp luật của đương sự là cả nhân mà đương sự được đại diện đã thành niên hoặc đã khôi phục năng lực hành vi dân sự thì tự đương sự tham gia tố tụng hoặc có thể uỷ quyền cho người khác tham gia tố tụng. Trong trường hợp chấm dứt đại diện theo uỷ quyền thì đương sự hoặc người thừa kế của đương sự tham gia tố tụng hoặc uỷ quyền cho người khác đại diện tham gia tố tụng.

Việc chấm dứt đại diện ưong tố tụng dân sự và hậu quà của việc chẩm dứt đại diện trong tố tụng dân sự được thực hiện theo quy định tại các điều 89, 90 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 140 Bộ luật dân sự năm 2015.

Lưu ý khi áp dụng liên quan đến đương sự: Lẽ công bằng là căn cứ áp dụng cuối cùng khi không có các nguồn khác của luật Dân sự để giải quyết vụ việc. Đây cũng là lần đầu tiên Bộ luật Dân sự của nước ta quy định về việc áp dụng lẽ công bằng để giải quyết các vụ việc dân sự (tại khoản 2 Điều 6 Bộ luật Dân sự năm 2015). Tại Điều 45 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

“Lẽ công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó.

Như vậy, lẽ công bằng được xác định thông qua các yếu tố sau: Một là, lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận; Hai là, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo; Ba là, bảo đảm không tạo ra thiên vị và phải bình đẳng giữa các đương sự trong vụ việc.

>> Xem thêm:  Khái niệm pháp nhân là gì ? Điều kiện để có tư cách pháp nhân là gì ?

Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã đưa ra định nghĩa về lẽ công bằng nhưng việc áp dụng trên thực tế cũng còn nhiều phức tạp. Khi vụ việc được giải quyết theo lẽ công bằng thì nhận thức, trình độ, lương tâm, đạo đức của thấm phán đóng một vai trò quan trọng để vụ việc được giải quyết hợp tình, hợp lý và bảo đảm sự bình đẳng giữa các bên chủ thể.

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự, tố tụng dân sự về chấm dứt tư cách đại điện đương sự cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê