>> Luật sư tư vấn pháp luật về bảo hiểm y tế trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Luật sư tư vấn:

Với câu hỏi của bạn, Luật Minh Khuê xin được trả lời như sau:

 

1. Phạm nhân trong tù có được hưởng bảo hiểm y tế không?

Căn cứ vào khoản 3, khoản 4 Điều 16 LLuật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định như sau:

3. Thời điểm thẻ bảo hiểm y tế có giá trị sử dụng được quy định như sau:

c) Đối tượng quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 12 của Luật này tham gia bảo hiểm y tế từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành hoặc tham gia không liên tục từ 3 tháng trở lên trong năm tài chính thì thẻ bảo hiểm y tế có giá trị sử dụng sau 30 ngày, kể từ ngày đóng bảo hiểm y tế;

4. Thẻ bảo hiểm y tế không có giá trị sử dụng trong các trường hợp sau đây:

a) Thẻ đã hết thời hạn sử dụng;

b) Thẻ bị sửa chữa, tẩy xóa;

c) Người có tên trong thẻ không tiếp tục tham gia bảo hiểm y tế.

Ngoài ra, căn cứ vào Điều 20 Luật bảo hiểm y tế năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định về thu hồi, tạm giữ thẻ bảo hiểm y tế như sau:

1. Thẻ bảo hiểm y tế bị thu hồi trong trường hợp sau đây:

a) Gian lận trong việc cấp thẻ bảo hiểm y tế;

b) Người có tên trong thẻ bảo hiểm y tế không tiếp tục tham gia bảo hiểm y tế;

c) Cấp trùng thẻ bảo hiểm y tế.

2. Thẻ bảo hiểm y tế bị tạm giữ trong trường hợp người đi khám bệnh, chữa bệnh sử dụng thẻ bảo hiểm y tế của người khác. Người có thẻ bảo hiểm y tế bị tạm giữ có trách nhiệm đến nhận lại thẻ và nộp phạt theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, hiện tại cũng không có quy định nào quy định về việc người bị phạt tù không được hưởng quyền lợi bảo hiểm y tế. Vì vậy, trong thời gian, người đó vẫn được hưởng quyền lợi bảo hiểm y tế và trong thời gian chấp hành hình phạt tù, người đó sẽ được chăm sóc y tế theo chế độ đối với phạm nhân theo quy định tại Điều 3 và Điều 13 Nghị định 117/2011/NĐ-CP như sau:

Kinh phí bảo đảm cho việc quản lý phạm nhân và thực hiện các chế độ đối với phạm nhân.

Điều 3. Kinh phí bảo đảm cho việc quản lý phạm nhân và thực hiện các chế độ đối với phạm nhân

1. Kinh phí bảo đảm cho việc đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện phục vụ tổ chức quản lý phạm nhân và thực hiện chế độ với phạm nhân do ngân sách nhà nước cấp.

Điều 13. Chế độ chăm sóc y tế đối với phạm nhân

1. Chế độ chăm y tế đối với phạm nhân được thực hiện theo quy định tại Điều 48 Luật Thi hành án hình sự và quy định tại Nghị định này.

2. Chế độ ăn, cấp phát thuốc, bồi dưỡng do cơ sở chữa bệnh chỉ đại theo bệnh lý và theo mức độ nặng, nhẹ của bệnh tật. Tiền thuốc chữa bệnh thông thường hàng ngày cho phạm nhân được cấp tương đương 02 kg gạo/01 người/ 01 tháng.

3. Phạm nhân bị nhiễm HIV/AIDS được chăm sóc, điều trị theo quy định của pháp luật hiện hành.

Như vậy, dựa vào những căn cứ trên, có thể kết luận rằng: Quyền lợi về bảo hiểm y tế trong thời gian chấp hành hình phạt tù của người chấp hành phạt tù không bị mất đi.

 

2. Người đang chấp hành hình phạt tù giam có được hưởng BHXH một lần không?

Căn cứ vào Điều 60, Luật Bảo hiểm Xã hội số 58/2014/QH13 quy định người lao động mà có yêu cầu thì được hưởng BHXH một lần nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại các khoản 1,2 và 4 Điều 54 của Luật này mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH hoặc theo quy định tại khoản 3 Điều 54 của Luật này mà chưa đủ 15 năm đóng BHXH và không tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện;

b) Ra nước ngoài để định cư;

c) Người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y Tế;

d) Trường hợp người lao động quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 2 của Luật này khi phục viên, xuất ngũ, thôi việc mà không đủ điều kiện để hưởng lương hưu.

Theo Điều 1 Nghị quyết số 93/2015/QH13 ngày 22/06/2015 của Quốc hội về việc thực hiện chính sách hưởng BHXH một lần đối với người lao động quy định"

Trường hợp người lao động tham gia BHXH bắt buộc sau một năm nghỉ việc, người tham gia BHXH tự nguyện sau một năm không tiếp tục đóng BHXH mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH khi có yêu cầu thì được nhận BHXH một lần.

Đối với quy định nêu trên, hiện nay pháp luật về BHXH không có quy định về việc hưởng BHXH một lần đối với người đang chấp hành hình phạt tù giam. Như vậy, người đang chấp hành hình phạt tù giam không được hưởng BHXH một lần.

 

3. Đang chấp hành án phạt tù có được nhận lương hưu hay không?

Căn cứ vào Điều 64 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định về việc tạm dừng, hưởng tiếp lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng như sau:

1.  Người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng bị tạm dừng, hưởng tiếp lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Xuất cảnh trái phép;

b) Bị Tòa án tuyên bố là mất tích;

c) Có căn cứ xác định việc hưởng bảo hiểm xã hội không đúng quy định của pháp luật.

2. Lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội tháng được tiếp tục thực hiện khi người xuất cảnh trở về định cư hợp pháp theo quy định của pháp luật về cư trú. Trường hợp có quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích thì ngoài việc tiếp tục được hưởng lương hưu, trợ cấp còn được truy lĩnh tiền lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng kể từ thời điểm dừng hưởng.

3. Cơ quan bảo hiểm xã hội khi quyết định tạm dừng hưởng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tạm dừng hưởng, cơ quan bảo hiểm xã hội phải ra quyết định giải quyết hưởng; trường hợp quyết định chấm dứt hưởng bảo hiểm xã hội thì phải nêu rõ lý do.

Trước đây theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội 2006 thì nếu như người lao động đang chấp hành hình phạt tù nhưng không được hưởng án treo thì sẽ bị tạm dừng hưởng lương hưu.

Tuy nhiên, theo quy định hiện nay dù đang chấp hành hình phạt tù thì người lao động vẫn được nhận lương hưu như bình thường. Chỉ khi thuộc một trong 03 trường hợp được quy định tại khoản 1 nêu trên thì mới bị tạm dừng hưởng lương hưu.

Do đó, trường hợp người này đang chấp hành án phạt tù thì vẫn được nhận lương hưu như bình thường.  

 

4. Mức lương hưu hằng tháng được xác định như thế nào?

Theo Điều 56 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định về mức lương hàng tháng như sau:

1. Từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành cho đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2018, mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 54 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 62 của Luật này tương ứng với 15 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ, mức tối đa bằng 75%.

2. Từ này 01 tháng 01 năm 2018, mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 54 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 62 của Luật này và tương ứng với số năm đóng bảo hiểm xã hội như sau:

a) Lao động nam nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm, năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm;

b) Lao động nữ nghỉ hữu từ năm 2018 trở đi là 15 năm.

Sau đó cứ thêm mỗi năm, người lao động quy định tại điểm a và điểm b khoản này được tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75%.

3. Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 55 của Luật này được tính như quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều nay, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 2%.

Trường hợp tuổi nghỉ hưu có thời gian lẻ đến đủ 06 tháng thì mức giảm là 1%, từ trên 06 tháng thì không giảm tỷ lệ phần trăm do nghỉ hưu trước tuổi. 

4. Mức lương lưu hằng tháng của lao động nữ đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định tại khoản 3 Điều 54 được tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội và mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội như sau: đủ 15 năm bóng bảo hiểm tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 62 của Luật này. Từ đủ 16 năm đến dưới 20 năm đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm đóng tính thêm 2%. 

5. Mức lương hưu hằng tháng thấp nhất của người lao động tham bảo hiểm xã hội bắt buộc đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 54 và Điều 55 của Luật bằng này bằng mức lương cơ sở, trừ trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 2 và khoản 3 Điều 54 của Luật này.

6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Như vậy, việc xác định mức hưởng lương hưu của từng người sẽ tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể và được xác định như trên. Ngoài ra có thể xem thêm quy định chi tiết hơn về vấn đề này tại Điều 7 Nghị định 115/2015/NĐ-CP.

 

5. Làm giả hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp thì có bị đi tù không?

Theo Điều 214 Bộ luật Hình sự 2015 thì việc giao lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp được quy định như sau:

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 20.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng mà không thuộc trường hợp quy định tại một trong các điều 174, 353 và 355 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Lập hồ sơ giả hoặc làm sai lệch nội dung hồ sơ bảo hiểm xã hội, hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội; 

b) Dùng hồ sơ giả hoặc hồ sơ đã bị làm sai lệch nội dung lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội thưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng;

d) Gây thiệt hại từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

đ) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. 

Như vậy, trong trường hợp này tùy theo số tiền mà bạn làm giả hồ sơ để được nhận trợ cấp thất nghiệp mà bạn sẽ bị phạt tiền hoặc phạt tù. Mức hình phạt cao nhất cho tội này lên đến 10 năm tù, đồng thời bạn cũng có thể sẽ bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định cao nhất lên đến 05 năm. Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 40 Nghị định 12/2022/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì bạn còn có thể bị xử phạt hình chính lên đến 20 triệu đồng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật  miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.  Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.