- 1. Khái quát chế định các biện pháp tha miễn trong Bộ luật Hình sự (năm 1985)
- 2. Chế định miễn chấp trách nhiệm hình sự và miễn chấp hành hình phạt của Bộ luật hình sự (năm 1999)
- a. Về phạm vi áp dụng
- b. Về chế định miễn trách nhiệm hình sự
- c. Về chế định miễn chấp hành hình phạt
- 3. Chế định giảm thời hạn, hoãn chấp hành hình phạt tù và chế định án treo của Bộ luật hình sự (năm 1999)
- a. Chế định giảm thời hạn
- b. Chế định hoãn chấp hành hình phạt tù
- c. Chế định án treo theo pháp luật hình sự năm 1999
- 4. Chế định trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội theo Bộ luật hình sự (năm 1985)
- 5. Những thay đổi về trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội theo Bộ luật hình sự (năm 1999)
- 6. Cấu trúc chương của Bộ luật hình sự Việt Nam (năm 1999)
Khách hàng: Kính thưa Luật sư, Chế định các biện pháp tha miễn và chế định trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội trong Bộ luật hình sự (năm 1999) so với Bộ luật hình sự (năm 1985) có điểm gì mới và khác biệt?
Cảm ơn!
Trả lời:
1. Khái quát chế định các biện pháp tha miễn trong Bộ luật Hình sự (năm 1985)
Có thể nói rằng, lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam có chế định lớn về các biện pháp tha miễn được điều chỉnh bằng các quy phạm riêng biệt với một loạt chế định nhỏ, và được ghi nhận trong cùng một chương độc lập, đó là Chương VI thuộc Phần chung Bộ luật Hình sự (năm 1985).
Tuy nhiên, vì để bảo đảm tính chính xác thì chế định quyết định hình phạt đã được phân tích riêng.
Vì vậy, ở đây chúng ta sẽ chỉ đề cập đến chế định lớn về các biện pháp tha miễn với 17 điều luật (từ Điều 44 đến Điều 56 của Bộ luật).
Như vậy, việc phân tích các quy phạm của chế định lớn về các biện pháp tha miễn trong pháp luật hình sự Việt Nam đã cho thấy nội hàm của nó được thể hiện qua những thuộc tính chung với các đặc điểm cơ bản mà chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu theo đây.
Đối với các biện pháp tha miễn theo Bộ luật Hình sự (năm 1985) là một hệ thống gồm 09 chế định nhỏ phản ánh rất rõ nét nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam đã được pháp điển hóa, đó là: Án treo (Điều 44); Không truy cứu trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu (Điều 45); Không thi hành bản án kết tội do hết thời hiệu (Điều 46); Miễn trách nhiệm hình sự (khoản 1 Điều 48); Miễn hình phạt (khoản 2 Điều 48); Giảm thời hạn chấp hành hình phạt chính (Điều 49); Giảm thòi hạn chấp hành hình phạt bổ sung (Điều 50); Giảm thời hạn và miễn việc chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt (Điều 51) và; Xóa án tích (các điều 52-56).
2. Chế định miễn chấp trách nhiệm hình sự và miễn chấp hành hình phạt của Bộ luật hình sự (năm 1999)
Việc phân tích nội hàm các quy phạm của chế định lớn về các biện pháp tha miễn này (với một loạt chế định nhỏ thuộc nó) trong Phần chung Bộ luật Hình sự (năm 1999) đã cho thấy, những vấn đề khác và mới (so với chế định lớn này trong Bộ luật Hình sự (năm 1985)) là lần đầu tiên trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 nhà làm luật nước ta đã có quy định, những điểm này được tìm hiểu dưới những ý sau:
a. Về phạm vi áp dụng
Theo Bộ luật hình sự (năm 1999) đã thu hẹp phạm vi trấn áp về hình sự bằng việc loại trừ khỏi Bộ luật Hình sự (năm 1999) (quy định tại điều Điều 23) về khả năng có thể truy cứu trách nhiệm hình sự khi thời hiệu 15 năm đã qua (mà khả năng này đã được quy định tại khoản 3 Điều 45 Bộ luật Hình sự (năm 1985));
Mặt khác, nếu so sánh Bộ luật Hình sự của năm 1999 với Bộ luật Hình sự đầu tiên của Việt Nam (năm 1985) thì lại mở rộng hơn phạm vi không áp dụng chế định thời hiệu đối với các tội phạm được quy định tại Chương XI Bộ luật Hình sự (năm 1999) về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, kể cả thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (quy định tại Điều 24) và thời hiệu thi hành bản án kết tội (tại Điều 56).
b. Về chế định miễn trách nhiệm hình sự
Sửa đổi tính chất không bắt buộc (tùy nghi) đối vối các cơ quan tư pháp hình sự của dạng miễn trách nhiệm hình sự do sự thay đổi của tình hình (mà trước đây được quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự của năm 1985) trở thành tính chất bắt buộc tại Điều 25 Bộ luật Hình sự của năm 1999 (khoản 1), đồng thời, bổ sung vào Điều luật này một dạng miễn trách nhiệm hình sự mới, đó là khi có quyết định đại xá (khoản 3) và tách chế định miễn hình phạt tại khoản 3 Điều 48 Bộ luật Hình sự (năm 1985) thành một điều riêng biệt trong Bộ luật Hình sự (năm 1999) được quy định tại Điều 54.
c. Về chế định miễn chấp hành hình phạt
Theo bộ luật hình sự của năm 1999 đã bổ sung vào chế định “miễn chấp hành hình phạt”, chế định nhỏ này tại Điều 57 thêm hai dạng miễn chấp hành hình phạt mới mà trước đây Bộ luật Hình sự của năm 1985 chưa có quy định, đó là: Khi có quyết định đặc xá hoặc đại xá (quy định tại khoản 2).
3. Chế định giảm thời hạn, hoãn chấp hành hình phạt tù và chế định án treo của Bộ luật hình sự (năm 1999)
a. Chế định giảm thời hạn
Về chế định này đã được sửa đổi mà trước đây việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt chính và chấp hành hình phạt bổ sung được đề cập bằng hai điều luật riêng biệt trong Bộ luật Hình sự của năm 1985 (quy định tại các điều 50 đến điều 51) thành chế định độc lập là giảm mức hình phạt đã tuyên và quy định gộp hai điều luật riêng biệt đó thành một điều luật thống nhất đó là Điều 58 Bộ luật Hình sự (năm 1999).
b. Chế định hoãn chấp hành hình phạt tù
Theo Bộ luật hinh sự (năm 1999) đã sửa đổi đối tượng áp dụng, đồng thời, bổ sung các căn cứ và những điều kiện áp dụng chế định hoãn chấp hành hình phạt tù được quy định tại Điều 61 (mà trước đây tại Điều 69 Bộ luật Hình sự của năm 1985 quy định chỉ đối với quân nhân bị kết án), và bổ sung thêm một chế định nhỏ mới (mà trong Bộ luật Hình sự trước đây vào năm 1985 chưa có) là tạm đình chỉ việc chấp hành hình phạt tù (Điều 62).
c. Chế định án treo theo pháp luật hình sự năm 1999
Pháp luật hình sự năm 1999 đã loại trừ quy phạm đề cập việc đương nhiên được xóa án tích đốỉ với người được hưởng án treo mà trước đây đã được ghi nhận trong Bộ luật Hình sự (năm 1985) tại khoản 2 Điều 53 và đã mở rộng hơn các căn cứ của việc đương nhiên được xóa án tích quy định tại khoản 2 Điều 64 Bộ luật Hình sự (năm 1999).
4. Chế định trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội theo Bộ luật hình sự (năm 1985)
Chế định trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội – đây là lần đầu tiên trong Phần chung pháp luật hình sự đã được pháp điển hóa của Việt Nam các quy phạm phản ánh nguyên tắc nhân đạo dành riêng cho người chưa thành niên phạm tội đã được ghi nhận trong Chương độc lập (Chương VII) “Những quy định đối vối người chưa thành niên phạm tội” gồm 11 điều luật (Điều 57 - Điều 67) của Bộ luật Hình sự (năm 1985).
Ở chế định này đã được quy định rõ ràng và riêng biệt tại Điều 57 “Áp dụng Bộ luật Hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội” với tinh thần là: Người chưa thành niên phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này của Bộ luật, cũng như theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật Hình sự đầu tiên của Việt Nam (năm 1985) tuy nhiên sẽ không trái với những quy định của Chương này.
5. Những thay đổi về trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội theo Bộ luật hình sự (năm 1999)
Việc phân tích nội hàm chế định lớn về trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội trong Chương X của Bộ luật Hình sự năm 1999 với 10 điều (từ Điều 68 đến Điều 77) cho thấy, bên cạnh việc giữ nguyên các quy phạm của chế định lớn này trong Bộ luật Hình sự trước đây (năm 1985) thì Bộ luật Hình sự của năm 1999 của nước ta đã có những vấn đề mới và những điểm khác biệt cơ bản chúng ta sẽ cùng tìm hiểu dưới đây.
a. Trước hết, về cơ cấu các điểu luật nếu so với Chương VII tương ứng của Phần chung Bộ luật Hình sự trước đây (năm 1985) thì Chương X của Bộ luật Hình sự (năm 1999) có cơ cấu tăng, giảm với số lượng cụ thể như sau:
Thứ nhất, Chương X của Bộ luật Hình sự (năm 1999) tăng một Điều 72 “Phạt tiền” mà Bộ luật Hình sự (năm 1985) không có;
Thứ hai, Chương X của Bộ luật Hình sự (năm 1999) đã giảm một điều riêng biệt về tuổi chịu trách nhiệm hình sự mà Bộ luật Hình sự (năm 1985) đã có và nhập nội dung này vào cùng một điều đó là Điều 68 “Áp dụng Bộ luật Hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội”;
Thứ ba, Chương X của Bộ luật Hình sự (năm 1999) cũng đã giảm hai điều riêng biệt về hai biện pháp tư pháp (tương ứng vối hai điều là Điều 61 và Điều 62 của Bộ luật Hình sự (năm 1985) quy định liên quan về việc buộc phải chịu thử thách và đưa vào trường giáo dưỡng, đồng thời gộp hai điều vào cùng một Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 1999.
b. Quy phạm về phạt tiền theo quy định tại Điều 72 Bộ luật Hình sự (năm 1999) đã cho thấy việc hình phạt hóa theo hướng tăng nặng hơn do Bộ luật Hình sự trước đây (năm 1985) được quy định tại đoạn 2 khoản 4 Điều 59) đã thể hiện rõ nguyên tắc nhân đạo nên không cho phép phạt tiền đối với người chưa thành niên vì trong hệ thống hình phạt đối với người chưa thành niên theo Bộ luật Hình sự (năm 1985) không có hình phạt này.
6. Cấu trúc chương của Bộ luật hình sự Việt Nam (năm 1999)
Việc phân tích cấu trúc các chương và các điều của hệ thống Phần chung pháp luật hình sự thực định trong Bộ luật Hình sự (năm 1999) đã cho thấy rằng so với cấu trúc của hệ thống Phần chung pháp luật hình sự thực định trong Bộ luật Hình sự (năm 1985) trước đây thì ở một chừng mực nhất định nào đó (chứ chưa hoàn toàn) nhà làm luật đã có sự sắp xếp lại theo hướng ghi nhận riêng biệt từng chương (hoặc từng điều) tương ứng theo từng chế định độc lập (hoặc khái niệm cơ bản) của luật hình sự.
Ví dụ như: thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự (Chương IV), quyết định hình phạt (Chương VII), xóa án tích (Chương IX), quyết định hình phạt nhẹ hơn luật định (Điều 47), quyết định hình phạt trong việc chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, tức hoạt động phạm tội sơ bộ (Điều 52), quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm (Điều 53),...
Chính vì triển khai việc sắp xếp lại theo hướng đã nêu trên nên so với Phần chung Bộ luật Hình sự (năm 1985) thì cấu trúc Phần chung Bộ luật Hình sự (năm 1999) đã tăng thêm hai chương trên tổng số là 10 chương mà trong đó có 04 chương mới.
Trân trọng!