1. Chế độ của người lao động chấm dứt hợp đồng lao động ?

Thưa luật sư, Do làm ăn thua lỗ, nên công ty tôi đang làm thông báo sẽ chấm dứt HĐLĐ đối với một số lao động vì lý do kinh tế, trong đó có tôi. Công ty có quyền chấm dứt HĐLĐ như vậy với tôi không? Các chế độ tôi được hưởng như thế nào?
Câu hỏi: Do làm ăn thua lỗ, nên công ty tôi đang làm thông báo sẽ chấm dứt HĐLĐ đối với một số lao động vì lý do kinh tế, trong đó có tôi. Công ty có quyền chấm dứt HĐLĐ như vậy với tôi không? Các chế độ tôi được hưởng như thế nào?.
Cảm ơn Luật sư nhiều và rất mong nhận được phản hồi của Luật sư.

>> Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 44 Bộ Luật lao động năm 2012:

Điều 44. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế

2. Trong trường hợp vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ mất việc làm, phải thôi việc, thì người sử dụng lao động phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này. Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này.

3. Việc cho thôi việc đối với nhiều người lao động theo quy định tại Điều này chỉ được tiến hành sau khi đã trao đổi với tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và thông báo trước 30 ngày cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh.

Đồng thời, Khoản 2 Điều 13 Nghị định 05/2015/NĐ-CP có giải thích lý do kinh tế tại Khoản 2 Điều 44 của Bộ luật Lao động thuộc một trong các trường hợp sau đây: Khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế; Thực hiện chính sách của Nhà nước khi tái cơ cấu nền kinh tế hoặc thực hiện cam kết quốc tế.

Căn cứ quy định pháp luật nêu trên, đối chiếu với trường hợp của, do làm ăn thua lỗ, rơi vào tình trạng khó khăn nên công ty có quyền chấm dứt HĐLĐ với bạn vì lý do kinh tế nếu trước đó công ty đã xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động. Trong trường hợp không thể sắp xếp được việc làm mà phải chấm dứt HĐLĐ thì công ty có nghĩa vụ trả trợ cấp mất việc làm cho bạn.

Các chế độ người lao động khi công ty chấm dứt HĐLĐ

Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Lao động 2012, khi chấm dứt HĐLĐ, người sử dụng lao động có trách nhiệm như sau: thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của người lao động trong thời hạn 07 ngày làm việc; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày; hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

Ngoài ra, Khi chấm dứt HĐLĐ vì lý do kinh tế, người sử dụng lao động phải chi trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 Bộ luật Lao động năm 2012. Theo đó, người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.

Thời gian làm việc để tính trợ cấp trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Trong đó:

- Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo các Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội;

- Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật;

- Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc.

Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm.

Như vậy, trong trường hợp công ty chấm dứt HĐLĐ với bạn vì lý do kinh tế, bạn sẽ được công ty chi trả trợ cấp mất việc làm và thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật lao động hiện hành.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi đối với thắc mắc của bạn về vấn đề giải quyết chế độ khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Mọi vướng mắc pháp lý vui lòng trao đổi trực tiếp với đội ngũ luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến qua tổng đài : 1900.6162 để nhận được sự hỗ trợ trực tiếp. Trân trọng./.

2. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

Chào luật sư, cho hỏi tôi làm công ty nay hơn 1 năm rưỡi mà không có ký hợp đồng lao động chỉ có ký hợp đồng thời vụ 2 lần. Lần đầu mới vào làm thời gian là 3 tháng, qua 3 tháng khoảng 5 tháng sau ký thêm 6 tháng như vậy công ty có sai quy định không? Và tôi muốn hỏi thêm là mùng 8 tết CÔNG TY khai trương làm mà tôi không làm vào 2 ngày đến ngày thứ 3 tôi vào làm đơn xin thôi việc nhưng giám đốc không chấp nhận mà phạt tôi là 1 triệu 2 như vậy có đúng luật không?
Mong luật sư sớm phản hồi thư để tôi có thể biết mà có thể can thiệp theo đúng luật ? Xin cảm ơn!

>> Tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất về hợp đồng lao động thời vụ:

Điều 22 Bộ luật Lao động 2012 quy định về loại hợp đồng như sau:

"Điều 22. Loại hợp đồng lao động

1. Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:

a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.

b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.

c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

2. Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.

Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

3. Không được giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản, ốm đau, tai nạn lao động hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác."

Đối với trường hợp của bạn, bạn không nói rõ là sau khi hết hạn hợp đồng lần 1 bạn có nghỉ hay là vẫn đi làm tiếp do đó chúng tôi xin tư vấn với bạn như sau:

- Sau khi hết hạn hợp đồng mùa vụ lần 1, bạn không tiếp tục làm việc tại công ty nữa như vậy khi công ty ký tiếp hợp đồng mùa vụ lần 2 với bạn là hoàn toàn đúng quy định pháp luật.

- Sau khi hết hạn hợp đồng mùa vụ lần 1, bạn tiếp tục làm việc tại công ty trong thời gian 30 ngày thì khi công ty ký tiếp hợp đồng lần 2 với bạn là hoàn toàn không đúng theo quy định. Mà lúc này, hợp đồng lao động của bạn với công ty trở thành hợp đồng lao động có thời hạn 24 tháng.

Thứ hai, về yêu cầu bồi thường của công ty:

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì bạn chấm dứt hợp đồng lao động mà không có lý do đồng thời cũng không báo trước cho người sử dụng lao động. Do vậy, trường hợp của bạn sẽ là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, do đó bạn phải có nghĩa vụ theo quy định của Điều 43 Bộ luật Lao động:

"Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước."

Như vậy, bạn có thể căn cứ vào quy định pháp luật trên để có thể xác định việc công ty yêu cầu bạn bồi thường 1 triệu 2 là có chính xác hay không.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tư vấn về thời hạn báo trước khi hết hạn hợp đồng lao động

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

3. Chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật bị xử lý như thế nào ?

Xin chào các luật sư Minh Khuê. Tôi có ký hợp đồng lao động có thời hạn 36 tháng với công ty, trong 3 tháng đầu công ty có trả lương đầy đủ nhưng đến tháng thứ 4 thì công ty không trả lương nữa, đến tháng 5 thì trả lương của tháng 5, chúng tôi có hỏi còn lương tháng 4 sao không trả thì giám đốc né không trả lời.
Suốt thời gian dài giám đốc không đến công ty làm việc nhưng chúng tôi vẫn làm việc bình thường cho đến tháng 10 thì giám đốc cho biết ông ta đã thông báo tới sở thương binh- xã hội đã chấm dứt hợp đồng lao động với chúng tôi kể từ tháng 5, nhưng chúng tôi không biết gì hết. Xin luật sư cho biết: chúng tôi phải làm gì để đòi lại quyền lợi của mình?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

- Điều 38 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động:

"Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng."

- Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì người sử dụng lao động sẽ phải thực hiện các nghĩa vụ quy định tại Điều 42 Bộ luật lao động năm 2012 như sau:

"Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước."

Theo các căn cứ trên , giám đốc của bạn đã có hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật do không thỏa mãn 2 điều kiện: viện dẫn lý do sa thải và tuân thủ điều kiện báo trước theo luật định. Vậy giám đốc của bạn cần phải nhận bạn lại làm việc và trả lương đầy đủ cũng như bồi thường cho bạn theo quy định nêu trên .

Bạn có thể bảo vệ quyền lợi của mình bằng cách gửi đơn khiếu nại lên giám đốc công ty, yêu cầu được công đoàn cơ sở tư vấn và đại diện về mặt pháp luật, tham gia hòa giải, đàm phán, thỏa thuận để giải quyết tranh chấp. Nếu không hòa giải được, bạn có thể khởi kiện yêu cầu giám đốc công ty bồi thường cho bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

4. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không ?

Thưa Luật sư, em đang quản lý một công ty cổ phần. Em có 1 nhân viên nữ đã làm 3 năm. Năm đầu nhân viên nữ đó gian lận khi tính tiền cho khách đã quẹt thẻ quá số tiền phải trả và lấy khoản chênh lệch đó để mang về tiêu xài.
Vì trường hợp đó xảy ra trong lúc nhân viên nữ mang thai con đầu lòng nên công ty có lập biên bản xử lý nhưng không đuổi việc. Năm thứ 2 làm việc nhân viên thường xuyên vi phạm kỷ luật. Năm thứ 3 nhân viên đó lại bị biên bản vì xem tài liệu trong khi thi sát hạch, điểm thi sát hạch các môn đều rớt. Sau đó nhân viên còn bị xử lý vi phạm các nội quy công ty nhưng lại đang trong thời gian mang thai bé thứ 2. Công ty đã có một biên bản tổng hợp vi phạm và quyết định cho nhân viên nghỉ việc vào tháng 4, vẫn hưởng lương căn bản tháng 5 và đóng bảo hiểm đến hết tháng 6/2016 để khi nhân viên nghỉ sinh có thể hưởng đủ tiền thai sản.
Mặc dù công ty biết trong thời gian mang thai sa thải nhân viên là không được phép nhưng thái độ làm việc và những hành vi trong công việc ảnh hưởng nên công ty quyết định cho thôi việc. Như vậy công ty có thực hiện đúng luật không? Cho thôi việc báo trước đủ 45 ngày.
Xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Bộ luật lao động năm 2012 quy định những trường hợp người sử dụng lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

"Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng."

Đối với nữ lao động đang mang thai, nghỉ thai sản, Bộ luật Lao động năm 2012 có quy định:

"Điều 155. Bảo vệ thai sản đối với lao động nữ

3. Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

4. Trong thời gian mang thai, nghỉ hưởng chế độ khi sinh con theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, lao động nữ không bị xử lý kỷ luật lao động."

Theo như quy định trên, công ty bạn chỉ không được đơn phương chấm dứt hợp đồng với người lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, còn theo như thông tin bạn cung cấp thì lý do công ty bạn cho nhân viên nữ kia nghỉ việc là thường xuyên vi phạm kỷ luật, không hoàn thành công việc đã có sự nhắc nhở, lập biên bản nhưng vẫn tái phạm. Bên cạnh đó công ty vẫn lo đóng tiền bảo hiểm để nhân viên nữ khi nghỉ thai sản vẫn được nhận chế độ bảo hiểm bình thường. Tuy nhiên, nếu muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với lao động nữ kia vì lý do người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng thì công ty bạn phải quy định rõ tiêu chí đánh giá hoàn thành công việc trong quy chế công ty, quy chế này phải có ý kiến của tập thể lao động tại cơ sở. Nếu tiêu chí này đã được quy định thì công ty bạn được đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không vi phạm quy định của pháp luật. Nếu tiêu chí này công ty chưa quy định tại quy chế công ty thì việc công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động chưa thật sự hợp lý.

Nếu công ty muốn thực hiện sa thải người lao động thì công ty cần tuân thủ quy định tại điều 126 Bộ luật lao động năm 2012 :

"Điều 126. Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải

Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong những trường hợp sau đây:

1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động;

2. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm.

Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 127 của Bộ luật này;

3. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng.

Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hoả hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.".

Nếu công ty không chứng minh được người lao động có hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của công ty thì việc công ty sa thải người lao động là trái quy định của pháp luật.

Trân trọng./.

5. Người lao động chấm dứt hợp đồng lao động có được giữ sổ bảo hiểm không ?

Kính thưa Luật sư. Trước kia em làm việc cho công ty PD được 3 năm và chấm dứt hợp đồng. Em rút sổ bảo hiểm. Đến 8 tháng sau em mới tiếp tục ký hợp đồng với công ty khác. Tháng 10/2014, em xin nghỉ việc và lấy số bảo hiểm. Nhưng đến nay vẫn chưa ký hợp đồng với công ty nào cả.
Em muốn giữ sổ bảo hiểm lại, để sau nay có ký hợp đồng với công ty khác thì dùng sổ bảo hiểm nộp vào và tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội (Từ ngày chấm dứt hợp đồng đến nay đã 1 năm 2 tháng). Như vậy có được không, thưa Luật sư ?
Xin chân thành cảm ơn luật sư!

Người lao động chấm dứt hợp đồng lao động có được giữ sổ bảo hiểm không ?

Luật sư tư vấn luật lao động, gọi số: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Điều 47 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

"Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.".

Như vậy, khi chấm dứt hợp đồng lao động thì bạn được trả lại sổ bảo hiểm và bạn có thể giữ đến khi nào tìm được công việc mới thì bạn tiến hành nộp lại cho công ty mới. Hành vi này không trái với quy định của pháp luật.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Phải làm gì khi bị công ty cũ giữ sổ bảo hiểm xã hội ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh KHuê