1. Chia tài sản chung chỉ đứng tên chồng khi ly hôn?

Thưa luật sư, vợ chồng tôi thuận tình li hôn nhưng về phần tài sản chung vợ chồng tôi được bố chồng cấp cho một ngôi nhà nhưng hiện nay trên giấy tờ nhà chỉ đứng tên một mình chồng tôi.
Vậy Luật sư cho tôi hỏi là khi ly hôn thì ngôi nhà đó được phân chia như nào ạ?
Tôi chân thành cảm ơn!
Người hỏi: Vân

>> Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn, chia tài sản chung, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Như thông tin bạn cung cấp thì ngôi nhà đó là do bố chồng cho chung hai vợ chồng nhưng hiện chỉ đứng tên chồng bạn. Tuy nhiên dây vẫn được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Vì theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 có quy định:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Tại mục 3 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao quy định:

Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên, trong trường hợp tài sản do vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân mà pháp luật quy định phải đăng ký sở hữu, nhưng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng, nếu không có tranh chấp thì đó là tài sản chung của vợ chồng. Nếu có tranh chấp là tài sản riêng, thì người có tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải chứng minh tài sản được tạo dựng từ nguồn tài sản riêng hoặc được tặng cho riêng, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản được hình thành từ nguồn tài sản riêng ví dụ như được thừa kế riêng một khoản tiền và dùng khoản tiền này mua cho bản thân một chiếc moto mà không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng . Trong trường hợp không chứng minh được tài sản đang có tranh chấp này là của riêng, tài sản đó là của chung vợ chồng.

Như vậy nếu chồng bạn không chứng minh được đây là tài sản riêng thì đây sẽ được xác định là tài sản chung của vợ chồng bạn. Khi li hôn sẽ giải quyết theo quy định tại Điều 59 như sau:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

>> Xem thêm:  Tại sao phải hòa giải khi Ly Hôn ? Không hòa giải có được không ?

2. Phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn ?

Xin chào văn phòng luật minh khuê,tôi viết mail này với mong muốn nhận được sự tư vấn về tình trạng hôn nhân của bố mẹ tôi. Xin được phép nói ngắn gọn vấn đề, bố mẹ tôi năm nay đãngoài 60t (cả 2 đều đã nghỉ hưu được nhiều năm).
Bố tôi đã ngoại tình từlâu (hơn 10 năm), đến giờ ông đã có 2 đứa con riêng với người vợ lẽ nhưngsuốt từ đó đến nay bố mẹ tôi không ly hôn. Tài sản chung giữa bố mẹ gồm 2căn nhà (1 nhà ở và 1 nhà trọ), cả 2 cùng đứng tên nhưng trong suốt nhữngnăm qua chỉ có mẹ tôi chăm sóc và quản lý công việc gia đình ở cả 2 nhà nênmẹ không muốn ly hôn để phải phân chia tài sản vì đó đều là công sức của bà(mẹ tôi đã nhiều lần thương thảo với ba tôi về việc sang tên cả 2 ngôi nhàcho chúng tôi (các con) nhưng ba tôi không đồng ý). Chia đôi tài sản thì mẹtôi không muốn, nhường lại tài sản thì ba tôi không chịu, mà cứ dùng dằngnhư hiện tại (mẹ tôi vẫn đang một mình quản lý 2 ngôi nhà nhưng trên giấytờ vẫn là 2 người cùng đứng tên) thì không biết cuối cùng sẽ ra sao nênchúng tôi có những thắc mắc như sau mong nhận được giải đáp từ phía công ty:
1. Trong trường hợp ly hôn, theo tôi được biết thì pháp luật sẽ để cho vợchồng tự thỏa thuận việc phân chia tài sản trước, nhưng nếu thỏa thuậnkhông được thì không biết pháp luật sẽ dùng đến biện pháp/cơ sở/thước đonào để đánh giá và định đoạt việc phân chia tài sản giúp bố mẹ tôi.
2. Trong trường hợp không ly hôn, mẹ tôi vẫn tiếp tục quản lý 2 ngôi nhàđến cuối đời, nhưng nếu bà ra đi trước bố tôi thì có phải sau đó bố tôi sẽ được quyền định đoạt toàn bộ tài sản (gồm cả 50% của bà). Mặt khác, nếu mẹtôi mất trước nhưng có để lại di chúc định đoạt 50% tài sản của bà thì cóhợp lý và khả thi không. Ngược lại, có phải cho dù bố tôi mất trước hay mấtsau thì mẹ tôi cũng không có quyền quyết định đối với 50% tài sản còn lạicủa ông. Nếu ông để lại di chúc cho 50% này cho người khác thì coi như mẹcon tôi không được gì, ông không để lại di chúc thì 50% này chia đều chotất cả các con của 2 người vợ, không biết suy nghĩ này có đúng không.
Trên đây là một số thắc mắc của tôi. Rất mong nhận được sự tư vấn từ cácluật sư của công ty. Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của quý anh chị. Trân trọng.

Luật sư trả lời:

2.1 Khi ly hôn thì tài sản được chia như thế nào ?

Chế độ tài sản của vợ chồng được pháp luật Hôn nhân gia đình chia thành hai loại: tài sản chung theo luật định (ví dụ: tài sản mà vợ chồng cùng mua được trong thời kỳ hôn nhân được coi là tài sản chung) và tài sản chung xác lập theo sự thỏa thuận trước khi kết hôn (là thỏa thuận của vợ và chồng phân chia tài sản chung và riêng sau khi kết hôn).

Dựa vào thông tin mà bạn trình bày thì tài sản mà bố mẹ bạn đang có là hai căn nhà được coi là tài sản chung của vợ chồng do luật quy định- được hình thành trong thời kỳ hôn nhân.

Đối với hai chế định tài sản này, luật hôn nhân và gia đình đều quy định sau khi ly hôn thì do vợ chồng tự thỏa thuận. Vì thế với trường hợp của bạn, khi bố mẹ bạn thuận tình ly hôn thì về nguyên tắc tài sản chung sẽ do hai bên vợ chồng tự thỏa thuận và Tòa án tôn trọng sự thỏa thuận đó. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nếu trường hợp hai vợ chồng có tranh chấp mà không thể thỏa thuận được thì Tòa án sẽ giải quyết chia đôi tài sản và dựa trên cơ sở sau:

Nguyên tắc phân chia tài sản khi ly hôn:

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Dựa trên những nguyên tắc trên, đối chiếu với hoàn cảnh gia đình bạn, có thể thấy mẹ bạn là người có công lao lớn hơn khi luôn cố gắng duy trì và chăm lo việc gia đình. Nếu như muốn đảm bảo quyền lợi của người vợ khi ly hôn thì mẹ bạn cần cung cấp những căn cứ để chứng minh về công sức đóng góp và duy trì hoạt động kinh doanh cũng như sinh sống tại hai căn nhà; đồng thời cần phải chứng minh về việc bố của bạn có hành vi ngoại tình- vi phạm nghĩa vụ chung thủy của vợ chồng.

2.2 Nếu một người mất trước thì tài sản chung vợ chồng được giải quyết như thế nào ?

Trường hợp thứ nhất nếu mẹ bạn mất trước:

+ Nếu như mẹ bạn không có di chúc thì điều đó không mặc nhiên được hiểu là bố bạn có quyền định đoạt toàn bộ tài sản của vợ chồng. Luật Hôn nhân gia đình có quy định về việc này như sau:

Điều 66. Giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết

1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Như vậy khi mẹ bạn đột ngột qua đời thì tài sản chung bố bạn tạm thời có trách nhiệm quản lý. Tuy nhiên khi chia tài sản thì sẽ được chia đôi, bố của bạn chỉ có quyền quyết định với 50% tài sản thuộc quyền sử dụng/sở hữu của ông mà thôi. Phần tài sản còn lại sẽ được chia thừa kế theo pháp luật.

+ Nếu mẹ bạn mất có di chúc thì bà hoàn toàn có quyền để lại di chúc 50% tài sản thuộc quyền sở hữu của mình trong khối tài sản chung, bởi đó là tài sản thuộc quyền sở hữu của bà, mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì di chúc Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.

Trường hợp thứ hai, nếu bố bạn mất:

Cũng giống như trường hợp mẹ bạn mất, bố bạn cũng sẽ chỉ có quyền được quyết định để thừa kế với 50% tài sản của ông trong khối tài sản chung chứ không được quyết định 100%, điều đó cũng đồng nghĩa là mẹ bạn không có quyền quyết định tài sản để cho ai trong 50% tài sản của bố bạn.

+ Mặc dù vậy, nếu như bố bạn mất và để lại di chúc định đoạt 50% tài sản cho người khác thì mẹ bạn- khi đó với tư cách là vợ hợp pháp vẫn sẽ được hưởng một phần tài sản thừa kế trong 50% tài sản của bố, theo quy định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc:

Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

+ Nếu bố bạn không để lại di chúc: trường hợp này cũng giống như mẹ bạn mất mà không có di chúc; tài sản 50% tài sản của bố sẽ chia theo pháp luật, chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất; trong đó có:bố, mẹ, vợ (mẹ của bạn) và các con

Trên đây là bài viết giải đáp thắc mắc của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

3. Ví dụ về tranh chấp tài sản chung của vợ chồng ?

Từ giấy chứng thực giả do ông Nguyễn Ngọc Phương, Phó Chủ tịch UBND phường Trung Tự, quận Đống Đa xác nhận, một đại tá quân đội đã bị vợ chiếm đoạt ngôi biệt thự trị giá hàng chục tỷ đồng là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

Xác nhận vắng mặt người cam đoan

Trong đơn tố cáo gửi Báo Dân trí, đại tá Phan Quốc Thắng hiện là Giảng viên Học viện Kỹ thuật Quân sự cho biết: ông Thắng và vợ là bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ đã làm đơn ly hôn ra tòa từ đầu năm 2006.

Tuy nhiên trong thời gian tòa án giải quyết ly hôn, bà Thuỷ đã giả mạo chữ ký của chồng rồi cùng cán bộ có thẩm quyền tạo giấy tờ giả, bán tẩu tán nhiều tài sản có giá trị lớn và chiếm đoạt toàn bộ số tiền bán được.

Cụ thể, biệt thự 5C4, khu đô thị Nam Thăng Long (Ciputra), rộng 198m2 là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Thắng và bà Thuỷ. Tuy nhiên ngày 26/7/2007, bà Thuỷ đã làm giả “Giấy cam đoan” xác nhận biệt thự trên là tài sản riêng của mình, giả chữ ký của ông Phan Quốc Thắng, rồi xin chứng thực chữ ký giả mạo tại UBND phường Trung Tự.

Chia tài sản chung của vợ chồng theo nguyên tắc nào?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Thực tế, ông Phan Quốc Thắng không làm giấy xác nhận tài sản trên cho bà Thuỷ, đồng thời ngày 26/7/2007, ông Thắng cũng không hề đến UBND phường Trung Tự vì phải thực hiện nhiệm vụ của Học viện Kỹ thuật Quân sự.

Vậy mà, bất chấp sự thật như trên, ông Nguyễn Ngọc Phương, Phó Chủ tịch UBND phường Trung Tự đã xác nhận vào “Giấy cam đoan” giả mạo trên là: “Chứng thực ông Phan Quốc Thắng đã ký trước mặt tôi (ông Phương – PV) tại UBND phường Trung Tự ngày 26/7/2007”.

Sau khi có “Giấy Cam đoan” giả trên, bà Thủy đã tiến hành làm “sổ đỏ” căn biệt thự 5C4, khu đô thị Ciputra và đã được UBND quận Tây Hồ cấp GCNQSDĐ vào ngày 9/8/2007. Sau đó, bà Thủy đã chuyển nhượng căn biệt thự trên với giá 4,1 tỷ đồng (theo tìm hiểu giá thị trường có thể gấp 4 lần giá ghi trong hợp đồng – PV) mà ông Phan Quốc Thắng không hề hay biết.

UBND phường Trung Tự thừa nhận sai sót

Trước việc làm trái pháp luật trên của ông Nguyễn Ngọc Phương, ông Thắng đã có đơn tố cáo gửi đến nhiều cơ quan chức năng.

Ngày 30/12/2008, UBND phường Trung Tự đã có Công văn số 76 CV/UB phúc đáp ông Thắng thừa nhận: “Ngày 26/7/2007, ông Phan Quốc Thắng không đến UBND phường xác nhận chữ ký. Việc xác nhận chữ ký của công dân mang tên Phan Quốc Thắng, số chứng thực 04, quyển 01, ngày 26/7/2007 của UBND phường Trung Tự là thiếu chính xác. UBND phường Trung Tự đề nghị cơ quan chức năng huỷ xác nhận chứng thực này”.

Ngày 23/5/2009, trao đổi với PV Dân trí, ông Phan Quốc Thắng cho biết, sau sự việc trên, để âm mưu lừa đảo với bà Thuỷ được trót lọt, ông Nguyễn Ngọc Phương đã tìm cách huỷ giấy cam đoan gốc giả chữ ký của ông Thắng.

Để tòa án có cơ sở bảo vệ quyền lợi cho mình tại căn biệt thự trên, nhiều lần ông Thắng có văn bản đề nghị ông Phương có văn bản chính thức gửi đến tòa đề nghị hủy Bản chứng thực chữ ký sai trái mà ông Phương đã làm, nhưng rốt cuộc ông Phương vẫn cố tình không chịu gửi.

Chưa hết qua băng ghi âm cuộc trao đổi giữa ông Phương và một luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Thắng cho thấy, ông Phương “thương lượng” việc làm trái của mình bằng việc bỏ ra 500 triệu đồng để “khắc phục hậu quả”.

Tuy nhiên, điều mà ông Thắng mong muốn ở đây không phải là việc bồi thường thiệt hại của UBND phường Trung Tự, mà việc các cơ quan chức năng sẽ xử lý sai phạm của ông Phương đến đâu?

Tiếp nữa vì sao đến nay UBND phường Trung Tự vẫn chậm trễ trong việc ra văn bản chính thức gửi đến toà án để huỷ bản chứng thực chữ ký sai trái mà ông Phương đã làm.

Hiện ông Thắng và vợ vẫn chưa thể ly hôn vì liên quan tới khối tài sản này.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

4. Chia tài sản chung của vợ chồng theo nguyên tắc nào ?

Chào luật sư minh khuê! luật sư có thể cho tôi biết về việc chia tài sản? tôi và chồng có tài sản chung nhưng chồng tôi xin đơn ly hôn viết là không có tài sản chung nào.
Vậy tôi có được chia và chia ra sao trong khi tôi là người nuôi con trong nhiều năm qua mà chồng tôi không hề có trách nhiệm ?
Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Về nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Theo đó, việc chia tài sản chung trước hết sẽ tuân theo sự thỏa thuận của hai vợ chồng, trường hợp không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án phân chia dựa trên những nguyên tắc trên. Thông thường Tòa án sẽ chia đôi nhưng có tính đến những yếu tố như công sức đóng góp, hoàn cảnh gia đình...và có tính đến việc đảm bảo quyền lợi cho các con.

Nếu anh chị không thỏa thuận phân chia được mà chồng chị không liệt kê đó là tài sản chung thì chị có thể bổ sung yêu cầu lên Tòa án và gửi kèm theo giấy tờ chứng minh tài sản chung của hai vợ chồng.

>> Bài viết tham khảo thêm: Mẫu giấy xác nhận mâu thuẫn vợ chồng (form)

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?

5. Có được chia khi nhập ngôi nhà trước khi kết hôn vào tài sản chung ?

Xin kính chào công ty luật Minh Khuê, Luật sư tư vấn giúp em với ạ: Chồng em mua nhà trước lúc bọn em kết hôn và giấy tờ nhà mang tên một mình chồng em. Vậy giờ em muốn cùng đứng tên với chồng trong giấy tờ nhà thì em phải làm thế nào ạ?
Em xin chân thành cảm ơn ạ.

>> Luật sư tư vấn luật hôn nhân về chia tài sản chung gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Trong trường hợp này, để bạn có thể đứng tên trên ngôi nhà cùng với chồng bạn, bạn phải nhập ngôi nhà là tài sản riêng của chồng bạn vào tài sản chung của vợ chồng.

Trước hết, bạn phải lập: Biên bản thỏa thuận nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung vợ chồng

Điều 46 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 46. Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung

1. Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng.

2. Tài sản được nhập vào tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó.

3. Nghĩa vụ liên quan đến tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác."

Sau đó, bạn mang biên bản này đi công chứng tại văn phòng công chứng nơi có nhà rồi thực hiện thủ tục: Đăng ký sang tên quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở

- Cơ quan tiến hành: Văn phòng đăng ký đất và nhà thuộc Phòng tài nguyên và môi trường cấp huyện nơi có bất động sản.

- Hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở gồm:

+ Biên bản thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung quyền sở hữu nhà ở.

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở.

+ Giấy tờ khác, như chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của hai bên…

- Thủ tục: Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, văn phòng đăng ký đất và nhà có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ, gửi hồ sơ cho cơ quan quản lý đất đai thuộc Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Vợ ở nhà chăm con, không có thu nhập thì phân chia tài sản chung khi ly hôn giải quyết như thế nào ?