1. Tinh giản biên chế là gì?

Tinh giản biên chế, còn được gọi là cải cách biên chế hoặc thu hẹp biên chế, là quá trình tiến hành sửa đổi và giảm bớt kích cỡ của một tổ chức, tổ chức công, hay hệ thống biên chế nhằm tăng hiệu suất và hiệu quả hoạt động. Mục tiêu của tinh giản biên chế thường là cắt giảm sự trùng lắp và sự phức tạp không cần thiết trong cấu trúc tổ chức, từ đó tạo ra một hệ thống hoạt động hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn và ít tốn kém hơn.

Quá trình tinh giản biên chế thường bao gồm xem xét lại cấu trúc tổ chức hiện tại, xác định các hoạt động không cần thiết hoặc thừa và tiến hành cắt giảm chúng. Điều này có thể bao gồm loại bỏ vị trí công việc dư thừa, sáp nhập hoặc loại bỏ các bộ phận không cần thiết, tối ưu hóa quy trình làm việc và tăng cường sự phân phối trách nhiệm và quyền lực.

Tinh giản biên chế thường được thực hiện nhằm đạt được các lợi ích như tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất lao động, cải thiện chất lượng dịch vụ, tăng cường khả năng đáp ứng và linh hoạt của tổ chức, và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và thích ứng trong môi trường kinh doanh thay đổi nhanh chóng.

Tuy nhiên, quá trình tinh giản biên chế cũng có thể gặp phải những thách thức, bao gồm khả năng gây ra mất mát công việc và không ổn định trong tổ chức, sự khó khăn trong việc thay đổi văn hóa tổ chức và sự kháng cự từ các thành viên tổ chức. Do đó, quá trình này thường cần được quản lý và triển khai một cách cẩn thận để đảm bảo sự thành công.

 

2. Đối tượng tinh giản biên chế

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định 29/2023/NĐ-CP, đối tượng thực hiện chính sách tinh giản biên chế là:

1. Cán bộ, công chức, viên chức; cán bộ, công chức cấp xã và người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động không xác định thời hạn trong các cơ quan hành chính được áp dụng chế độ, chính sách như công chức theo quy định của Chính phủ, nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Dôi dư do rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự theo quyết định của cấp có thẩm quyền hoặc dôi dư do đơn vị sự nghiệp công lập sắp xếp tổ chức bộ máy, nhân sự để thực hiện cơ chế tự chủ;

b) Dôi dư do sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã theo quyết định của cấp có thẩm quyền;

c) Dôi dư do cơ cấu lại cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm, nhưng không thể bố trí, sắp xếp được việc làm khác hoặc bố trí được việc làm khác nhưng cá nhân tự nguyện tinh giản biên chế và được cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý đồng ý;

d) Chưa đạt trình độ đào tạo theo tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ quy định đối với vị trí việc làm đang đảm nhiệm, nhưng không có vị trí việc làm khác phù hợp để bố trí và không thể bố trí đào tạo lại để chuẩn hóa về chuyên môn, nghiệp vụ hoặc được cơ quan bố trí việc làm khác nhưng cá nhân tự nguyện thực hiện tinh giản biên chế và được cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý đồng ý;

đ) Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, cán bộ, công chức, viên chức có 01 năm xếp loại chất lượng ở mức hoàn thành nhiệm vụ và 01 năm không hoàn thành nhiệm vụ nhưng không thể bố trí việc làm khác phù hợp; trong năm trước liền kề hoặc trong năm thực hiện xét tinh giản biên chế xếp loại chất lượng ở mức hoàn thành nhiệm vụ trở xuống nhưng cá nhân tự nguyện thực hiện tinh giản biên chế và được cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý đồng ý;

e) Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế mà trong từng năm đều có tổng số ngày nghỉ làm việc bằng hoặc cao hơn số ngày nghỉ tối đa do ốm đau theo quy định tại khoản 1 Điều 26 Luật Bảo hiểm xã hội, có xác nhận của cơ quan Bảo hiểm xã hội chi trả trợ cấp ốm đau theo quy định hiện hành của pháp luật; trong năm trước liền kề hoặc trong năm thực hiện xét tinh giản biên chế có tổng số ngày nghỉ làm việc bằng hoặc cao hơn số ngày nghỉ tối đa do ốm đau theo quy định tại khoản 1 Điều 26 Luật Bảo hiểm xã hội, có xác nhận của cơ quan Bảo hiểm xã hội chi trả trợ cấp ốm đau theo quy định hiện hành của pháp luật, cá nhân tự nguyện thực hiện tinh giản biên chế và được cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý đồng ý;

g) Cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý thôi giữ chức vụ, chức danh do sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính theo quyết định của cấp có thẩm quyền, cá nhân tự nguyện thực hiện tinh giản biên chế và được cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý đồng ý;

h) Cán bộ, công chức, viên chức đang trong thời gian bị kỷ luật nhưng chưa đến mức bị bãi nhiệm hoặc bị buộc thôi việc theo quy định của pháp luật tại thời điểm xét tinh giản biên chế, cá nhân tự nguyện thực hiện tinh giản biên chế, được cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý đồng ý.

Như vậy, chính sách này áp dụng cho công chức cấp huyện, cấp xã dư dật do sắp xếp lại đơn vị hành chính. Đối tượng này nghỉ từ khi có quyết định sắp xếp của cấp có thẩm quyền đến trước thời điểm kết thúc lộ trình sắp xếp.

 

3. Quyền lợi đối tượng tinh giản biên chế được hưởng

- Hưởng 01 trong các chính sách sau:

+ Chính sách nghỉ hưu trước tuổi

+ Chính sách chuyển sang làm việc tại các tổ chức không hưởng lương thường xuyên từ ngân sách nhà nước

+ Chính sách thôi việc

+ Chính sách nghỉ hưu trước tuổi đối với cán bộ, công chức cấp xã dôi dư do sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã có tuổi thấp hơn tối đa đủ 10 tuổi và thấp hơn tối thiểu trên 05 tuổi so với tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội

- Đối với công chức nghỉ trong thời gian 12 tháng kể từ khi có quyết định của cấp có thẩm quyền: Mỗi tháng nghỉ trước thời điểm kết thúc lộ trình giải quyết công chức dôi dư theo quyết định của cấp có thẩm quyền, công chức sẽ được hưởng trợ cấp bằng 1/2 tháng tiền lương hiện hưởng

- Đối với công chức nghỉ sau 12 tháng kể từ khi có quyết định sắp xếp của cấp có thẩm quyền đến trước thời điểm kết thúc lộ trình sắp xếp: Mỗi tháng nghỉ trước thời điểm kết thúc lộ trình giải quyết công chức dôi dư theo quyết định của cấp có thẩm quyền, công chức sẽ được hưởng mức trợ cấp bằng 1/4 tháng tiền lương hiện hưởng

- Riêng đối tượng nghỉ hưu trước thời điểm kết thúc lộ trình sắp xếp: Số tháng được hưởng trợ cấp sẽ được tính bằng số tháng nghỉ trước so với thời điểm nghỉ hưu được quy định.

 

4. Kinh phí giải quyết chính sách tinh giản biên chế

Nguồn kinh phí được đề cập tại khoản 1 Điều 11 Nghị định 29/2023/NĐ - CP có quy định:

1. Kinh phí giải quyết chính sách tinh giản biên chế đối với đối tượng quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 2 Nghị định này do ngân sách nhà nước cấp.

Riêng đối với đối tượng là viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư; đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên theo quy định của Chính phủ thì kinh phí giải quyết chính sách tinh giản biên chế được lấy từ nguồn thu hoạt động sự nghiệp của đơn vị.

Riêng người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động được áp dụng chế độ, chính sách như công chức theo quy định của Chính phủ thì kinh phí giải quyết chính sách tinh giản biên chế được lấy từ kinh phí thường xuyên của cơ quan, tổ chức.

Theo đó, kinh phí giải quyết chính sách sẽ lấy từ ngân sách nhà nước. Theo các phương án dự kiến tiến hành sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã tại Đề án sắp xếp đơn vị hành chính các cấp giai đoạn 2022-2025, định hướng đến năm 2023 thì dự kiến số cán bộ, công chức cấp xã dôi dư là 48.951 người và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã dôi dư là 27.972 người.

Theo tính toán của Bộ Nội vụ, nếu thực hiện chính sách đối với đối tượng tinh giản biên chế dôi dư do sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã nghỉ từ khi có quyết định sắp xếp của cấp có thẩm quyền đến trước thời điểm kết thúc lộ trình sắp xếp thì dự kiến nguồn kinh phí để chi trả trợ cấp đối với các đối tượng cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách cấp xã dôi dư nghỉ ngay (nghỉ trước 60 tháng so với lộ trình sắp xếp) là 9.732 tỷ đồng.

Tuy nhiên, nếu không bổ sung chính sách này thì Nhà nước vẫn phải chi trả tiền lương đối với số cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã dôi dư nêu trên với số tiền dự kiến là 19.464 tỷ đồng (gấp đôi số nguồn kinh phí dự kiến chi trả trợ cấp cho các đối tượng dôi dư đó nếu họ nghỉ ngay) và các khoản đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế (phần Nhà nước đóng) cho các đối tượng đó.

Như vậy, nếu thực hiện chính sách này thì ngân sách nhà nước sẽ phải chi trả ít hơn 9.732 tỷ đồng so với việc chi trả tiền lương, phụ cấp, trợ cấp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của đối tượng dôi dư do sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã.

Quý khách hàng có nhu cầu thì tham khảo thêm nội dung bài viết sau của công ty Luật Minh Khuê: 

Công ty Luật Minh Khuê mong muốn gửi đến quý khách hàng những thông tin tư vấn hữu ích. Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, hãy liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Hoặc quý khách hàng gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng!