1. Công ty có được mượn tiền Giám đốc để hoạt động khi thiếu vốn?

Hiện nay, Bộ luật Dân sự 2015, Luật Doanh nghiệp 2020 và các văn bản hướng dẫn liên quan không có quy định cấm công ty vay tiền của Giám đốc chính công ty đó. Tuy nhiên, trên thực tế, trong cùng một hợp đồng cho vay, không thể có một người vừa là bên cho vay vừa là bên đi vay được. Do đó, để giải quyết tình huống này, có thể áp dụng các hướng xử lý sau:

- Nếu Giám đốc đứng tên bên cho vay: Trong trường hợp này, về phía công ty, người đại diện phải là một cá nhân khác, chẳng hạn như người đại diện theo pháp luật.

- Nếu Giám đốc ký tên hợp đồng thay mặt công ty: Trong trường hợp này, bên cho vay phải là một cá nhân khác, không phải là Giám đốc công ty. Cá nhân này có thể là cha, mẹ, vợ, con hoặc một bên thứ ba khác.

Những biện pháp này nhằm đảm bảo tính minh bạch và tránh xung đột lợi ích trong quá trình giao dịch vay mượn giữa các bên liên quan.

 

2. Công ty mượn tiền Giám đốc thì có phải là giao dịch liên kết hay không? 

Công ty mượn tiền từ Giám đốc của mình có thể được coi là một giao dịch liên kết, tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Theo điểm l khoản 2 Điều 5 Nghị định 132/2020/NĐ-CP, các doanh nghiệp phải tuân thủ quy định sau:

- Giao dịch nhượng, nhận chuyển nhượng vốn góp: Công ty phải thực hiện báo cáo thuế nếu có giao dịch này với chủ sở hữu của doanh nghiệp, với mức nhận chuyển nhượng ít nhất 25% vốn góp trong kỳ tính thuế.

- Vay, cho vay vốn góp: Đối với giao dịch vay, cho vay ít nhất 10% vốn góp của chủ sở hữu tại thời điểm phát sinh giao dịch trong kỳ tính thuế với cá nhân điều hành, kiểm soát doanh nghiệp hoặc với cá nhân thuộc mối quan hệ quy định.

Do đó, nếu Giám đốc của công ty thỏa mãn các điều kiện sau thì giao dịch mượn tiền với Giám đốc sẽ được xem xét là giao dịch liên kết:

- Giám đốc là người thực hiện điều hành, kiểm soát doanh nghiệp.

- Số tiền mượn từ Giám đốc ít nhất 10% vốn góp của chủ sở hữu.

Nếu không đáp ứng đồng thời cả hai điều kiện này, thì giao dịch vay tiền giữa công ty và Giám đốc không được xem là giao dịch liên kết.

 

3. Chi phí lãi vay được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp

Theo quy định tại khoản 3 Điều 16 Nghị định 132/2020/NĐ-CP, tổng chi phí lãi vay được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết bao gồm các điều sau:

- Trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ: Tổng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ của người nộp thuế được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp không vượt quá 30% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trong kỳ, cộng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ, cộng chi phí khấu hao phát sinh trong kỳ của người nộp thuế.

- Chuyển chi phí lãi vay không được trừ: Phần chi phí lãi vay không được trừ theo quy định trên được chuyển sang kỳ tính thuế tiếp theo khi xác định tổng chi phí lãi vay được trừ trong trường hợp tổng chi phí lãi vay phát sinh được trừ của kỳ tính thuế tiếp theo thấp hơn mức quy định. Thời gian chuyển chi phí lãi vay tính liên tục không quá 05 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh chi phí lãi vay không được trừ.

- Không áp dụng đối với các khoản vay đặc biệt: Quy định trên không áp dụng với các khoản vay của người nộp thuế là tổ chức tín dụng, tổ chức kinh doanh bảo hiểm, các khoản vay vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vay ưu đãi của Chính phủ, các khoản vay thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia, các khoản vay đầu tư chương trình, dự án thực hiện chính sách phúc lợi xã hội của Nhà nước.

- Kê khai tỷ lệ chi phí lãi vay: Người nộp thuế kê khai tỷ lệ chi phí lãi vay trong kỳ tính thuế theo Phụ lục I.

 

4. Công ty vay tiền giám đốc có phải giao dịch liên kết 

Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 132/2020/NĐ-CP, các bên có quan hệ liên kết được quy định cụ thể như sau:

- Một doanh nghiệp nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp kia: Một doanh nghiệp sẽ được coi là có quan hệ liên kết với doanh nghiệp khác nếu nắm giữ ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp đó.

- Cả hai doanh nghiệp đều có ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu do một bên thứ ba nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp: Trường hợp này xảy ra khi cả hai doanh nghiệp đều có ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu được nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp bởi một bên thứ ba.

- Một doanh nghiệp là cổ đông lớn nhất về vốn góp của chủ sở hữu và nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp kia: Xảy ra khi một doanh nghiệp nắm giữ ít nhất 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp khác và là cổ đông lớn nhất về vốn góp của chủ sở hữu.

- Một doanh nghiệp bảo lãnh hoặc cho một doanh nghiệp khác vay vốn dưới bất kỳ hình thức nào: Một doanh nghiệp sẽ được coi là có quan hệ liên kết với doanh nghiệp khác nếu là bên bảo lãnh hoặc cho vay vốn cho doanh nghiệp đó, với điều kiện số vốn vay ít nhất bằng 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp đi vay và chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp đi vay.

Theo quy định tại khoản 24 Điều 4 của Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về người quản lý doanh nghiệp bao gồm các chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác theo quy định tại Điều lệ công ty. Vì vậy, giám đốc có thể là một trong những người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Tuy nhiên, để xác định giao dịch vay tiền giữa công ty và giám đốc là giao dịch liên kết, cần phải thỏa mãn đồng thời hai điều kiện sau:

- Giám đốc là người thực hiện điều hành, kiểm soát doanh nghiệp: Giám đốc có vai trò quan trọng trong việc quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.

- Vay giám đốc ít nhất 10% vốn góp của chủ sở hữu: Giám đốc phải vay ít nhất một phần của vốn góp của chủ sở hữu để được xem xét là giao dịch liên kết.

Nếu không đáp ứng cả hai điều kiện trên, thì giao dịch vay tiền giữa công ty và giám đốc sẽ không được xác định là giao dịch liên kết. Để một giao dịch vay tiền giữa công ty và giám đốc được xem là giao dịch liên kết, hai điều kiện cần phải được thỏa mãn: đầu tiên, giám đốc phải thực hiện điều hành và kiểm soát doanh nghiệp; thứ hai, giám đốc phải vay ít nhất 10% vốn góp của chủ sở hữu. Nếu không đáp ứng cả hai điều kiện này, thì giao dịch vay tiền giữa công ty và giám đốc sẽ không được coi là giao dịch liên kết.

Quý khách xem thêm bài viết sau: Chuyển khoản từ tài khoản công ty sang tài khoản cá nhân của giám đốc có phạm luật?

Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, xin vui lòng không ngần ngại liên hệ với chúng tôi thông qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Đội ngũ chuyên gia của chúng tôi sẵn sàng lắng nghe và cung cấp sự tư vấn chuyên nghiệp để giúp quý khách giải quyết mọi vấn đề một cách hiệu quả và đúng luật. Ngoài ra, quý khách hàng cũng có thể gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc một cách nhanh chóng. Chúng tôi cam kết đáp ứng mọi yêu cầu của quý khách hàng một cách chu đáo và chất lượng.