1. UNCITRAL - Luật mẫu về chữ kí điện tử

Năm năm sau khi ban hành Luật mẫu về thương mại điện tử, vào ngày 5/7/2001119, UNCITRAL đã thông qua Luật mẫu khác liên quan cụ thể đến các vấn đề về chữ kí điện tử, đó là Luật mẫu về chữ kí điện tử. Mục đích của Luật mẫu này là mở rộng những nguyên tắc đã được nêu ra trong Điều 7 của Luật mẫu về thương mại điện tử trong việc khuyến khích sử dụng các biện pháp điện tử tương đương để thay thế chữ kí tay. Phạm vi của Luật mẫu bao gồm các hoạt động thương mại, và nó không hướng tới việc loại bỏ luật bảo vệ người tiêu dùng. Luật mẫu bao gồm 12 điều khoản với các nội dung chính sau đây: - Thừa nhận giá trị pháp lí của chữ kí điện tử; - Đưa ra những điều kiện tin cậy để một chữ kí điện tử có hiệu lực pháp lí. Một chữ kí được xem là tin cậy, nếu dữ liệu tạo ra chữ kí đó được liên kết chỉ với người tạo ra nó chứ không với ai khác, và dữ liệu tạo ra chữ kí đó tại thời điểm kí phải dưới sự kiểm soát của người kí chứ không phải ai khác, tất cả các thay thế chữ kí điện tử sau thời điểm kí đều phải được phát hiện. - Chỉ thị cũng quy định trách nhiệm của các bên liên quan, bao gồm: Người kí; người chấp nhận chữ kí điện tử và người cung ứng dịch vụ chứng nhận chữ kí điện tử hay còn gọi là bên thứ ba. - Nhận thức được vai trò của chữ kí điện tử và chứng thực chữ kí điện tử trong thương mại quốc tế, Điều 12 quy định rằng trong việc xác định phạm vi có hiệu lực pháp lí của chữ kí điện tử và chứng thực chữ kí điện tử, sẽ không xem xét về vị trí địa lí nơi nó được tạo ra, hoặc nơi cư trú của người sử dụng chữ kí điện tử; tiếp theo, chữ kí điện tử có giá trị pháp lí tương đương với chữ kí tay, bất kể nó có được kí ở nước thành viên kí kết hay không. Với nội dung trên, Luật mẫu đã đưa ra những quy định để loại bỏ sự phân biệt và các rào cản trong việc sử dụng chữ kí điện tử. Nó tạo ra niềm tin trong giao dịch kinh doanh quốc tế khi sử dụng chữ kí điện tử. Trên một mặt cụ thể nào đó, Luật mẫu đã đóng góp cho việc hài hoà hoá các quy định về chữ kí điện tử và nó sẽ trở thành công cụ hữu ích cho các nước soạn thảo các văn bản pháp luật của nước mình.

2.Chỉ thị của EU về chữ kí điện tử

Nhận thức được tầm quan trọng và sự phức tạp của chữ kí điện tử trong giao dịch kinh doanh quốc tế, vào ngày 19/02/2000, Ủy ban châu Âu đã ban hành Chỉ thị số 1999/93/EC liên quan đến khuôn khổ pháp lí về chữ kí điện tử của Cộng đồng, với những nội dung tương tự Luật mẫu về chữ kí điện tử của UNCITRAL. Tuy nhiên, phạm vi điều chỉnh của Chỉ thị này chỉ nhằm khuyến khích sự phát triển của thị trường nội khối, bao gồm các nhu cầu của khách hàng. Tại Điều 5, Chỉ thị nhấn mạnh rằng: ‘Tất cả các nước thành viên phải đảm bảo rằng giá trị pháp lí, việc công nhận như bằng chứng pháp lí của một chữ kí điện tử, không thể bị phủ nhận chỉ vì lí do chữ kí này được thể hiện dưới dạng điện tử’. Điều này cho thấy chữ kí điện tử có giá trị tương đương như chữ kí tay. Để làm rõ hơn về chữ kí điện tử, Chỉ thị này đưa ra định nghĩa về chữ kí điện tử cao cấp (advanced electronic signature), bao gồm những  quy định mà một chữ kí điện tử thường phải đáp ứng để được tin cậy. Cũng giống như Chỉ thị của EU về thương mại điện tử, Chỉ thị này cũng đảm bảo sự tự do dịch chuyển của dịch vụ. Các nước thành viên không thể tạo ra các quy định theo đó đòi hỏi việc cung ứng dịch vụ chứng nhận chữ kí điện tử cần phải có sự cho phép trước của cơ quan có thẩm quyền, nhưng cho phép các nước ‘giới thiệu hoặc duy trì những các đề án công nhận tự nguyện, nhằm mục đích nâng cao cấp độ của những quy định về dịch vụ chứng nhận, với điều kiện là các dự án đó phải “khách quan, minh bạch, tương xứng và không phân biệt đối xử”’. Trên cơ sở phân biệt hai khái niệm ‘chứng nhận’ và ‘chứng nhận chất lượng cao’, Chỉ thị quy định trách nhiệm và yêu cầu của người cung ứng dịch vụ ‘chứng nhận chất lượng cao’ ở Phụ lục II. Theo đó, họ phải chứng minh được sự tin cậy của sự chứng nhận  và quản lí hệ thống, năng lực của đội ngũ nhân sự, và dịch vụ mà họ cung ứng. Họ cũng phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gây ra cho những tổ chức hay cá nhân  đã tin tưởng vào sự chứng nhận mà họ cung ứng. Bên cạnh đó, Chỉ thị cũng đưa ra những quy định liên quan đến yếu tố quốc tế, để chấp nhận ‘chứng nhận chất lượng cao’ do người cung cấp dịch vụ chứng nhận lập ở một bên thứ ba. Việc bảo vệ dữ liệu là vấn đề mới xuất hiện và được đề cập trong Chỉ thị của EU về chữ kí điện tử. Điều 8 yêu cầu các nước thành viên phải bảo đảm rằng người cung ứng dịch vụ chứng nhận phải tuân thủ Chỉ thị số 95/96 về bảo vệ cá nhân liên quan đến quá trình tạo dữ liệu cá nhân và sự tự do dịch chuyển của dữ liệu. Vì vậy, những người cung ứng dịch vụ chứng nhận chỉ có thể tập hợp dữ liệu trực tiếp từ chủ thể của dữ liệu hoặc sau khi có sự cho phép của họ.

3. Công ước của Liên hợp quốc về sử dụng phương tiện điện tử trong hợp đồng quốc tế 2005

Hai luật mẫu về thương mại điện tử và chữ kí điện tử đã được UNCITRAL ban hành. Năm 2005, Đại hội đồng Liên hợp quốc tiếp tục thông qua Công ước về sử dụng phương tiện điện tử trong hợp đồng quốc tế. Đây là Công ước đầu tiên xây dựng khuôn khổ pháp lí về kí kết và thực thi hợp đồng điện tử quốc tế. Nền tảng của Công ước này là phê chuẩn việc sử dụng phương tiện điện tử trong thương mại quốc tế.  Công ước này có mối quan hệ chặt chẽ với CISG và Luật mẫu về thương mại điện tử 1996. Công ước bao gồm 25 điều khoản được quy định trong 4 chương, và chỉ áp dụng đối với những hợp đồng giữa các bên có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau, mà không quan tâm đến quốc tịch của các bên hoặc tính chất thương mại hay dân sự của hợp đồng,  với những lĩnh vực được loại trừ trong Điều 2 của Công ước. Công ước là một bước đi tích cực trong việc giải quyết và làm rõ ràng các vấn đề cần thiết, như về thời gian và địa điểm gửi và nhận phương tiện điện tử, cũng như ý nghĩa của hệ thống tự động trong giao kết hợp đồng. Một số vấn đề của Công ước cần được biết như sau: - Định nghĩa về hợp đồng điện tử được hiểu với ý nghĩa rộng hơn, không chỉ đơn thuần là hợp đồng mua bán hàng hoá mà còn là những cam kết của các bên, ví dụ: thoả thuận về trọng tài. - Để xác định địa điểm của các bên - đây là vấn đề quan trọng để xác định hợp đồng được kí kết ở đâu. Điều 6 chỉ ra rằng trong trường hợp không xác định được địa kiểm kinh doanh, hoặc có nhiều hơn một địa điểm kinh doanh, thì địa điểm kinh doanh sẽ là nơi ‘có mối quan hệ gần gũi nhất với hợp đồng, xét trong từng hoàn cảnh’, tại thời điểm hợp đồng được lập. - Giá trị pháp lí của phương tiện điện tử được thể hiện tại Điều 8, theo đó một sự liên lạc hoặc một hợp đồng sẽ không bị phủ nhận giá trị pháp lí hoặc hiệu lực thực thi chỉ bởi vì nó được lập dưới dạng một phương tiện điện tử. - Điều 9 đảm bảo rằng không có một phương tiện hoặc một hợp đồng nào bắt buộc phải được lập hoặc chứng minh bởi một hình thức cụ thể, và Công ước không yêu cầu rằng một phương tiện hoặc hợp đồng phải được thực hiện dưới dạng văn bản hoặc tạo ra một hậu quả khi không có văn bản, và phương tiện điện tử cũng đáp ứng những yêu cầu đó. - Thời gian và địa điểm để gửi và nhận được quy định trong Điều 10 như sau: Khi một thông tin rời khỏi (gửi đi) và đến hệ thống của người nhận, và có khả năng lấy lại (khôi phục) được (nhận được). - Công ước chỉ áp dụng đối với các giao dịch điện tử và hợp đồng điện tử giữa ‘doanh nghiệp với doanh nghiệp’ (‘business-to-business’ - viết tắt là ‘B2B’). Những hợp đồng được thực hiện bởi ‘khách hàng với khách hàng’ (‘customer-to-customer’ - viết tắt là ‘C2C’); ‘khách hàng với doanh nghiệp’ (‘customer-to-business’ - viết tắt là ‘C2B’); và ‘doanh nghiệp với khách hàng’ (‘business-to-customer’ - viết tắt là ‘B2C’) nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Công ước này. Công ước đã hướng tới việc tạo thuận lợi cho hài hoà hoá pháp luật của các nước về sử dụng phương tiện điện tử trong hợp đồng quốc tế.

4.Pháp luật Việt Nam về thương mại điện tử

Vào tháng 11/1997, Internet đã xuất hiện ở Việt Nam và phát triển với tốc độ rất nhanh. Tuy nhiên, cho đến năm 2004, mới chỉ có một số giao dịch được thành lập theo mô hình ‘doanh nghiệp với khách hàng’ (‘business-tocustomer’ - viết tắt là ‘B2C’), hầu hết trong số đó là giải quyết các thủ tục hành chính và trao đổi thông tin. Để phát triển thương mại điện tử, Việt Nam đã kí Hiệp định khung e-ASEAN, theo đó cam kết phát triển cơ sở hạ tầng thông tin của ASEAN. Để tạo thuận lợi cho thương mại điện tử, Việt Nam cũng xây dựng khuôn khổ pháp luật với những nghị định, thông tư, quyết định, chỉ thị để hướng dẫn và ủng hộ cho sự phát triển của thương mại điện tử. Nền tảng quan trọng cho sự phát triển của khuôn khổ pháp luật về thương mại điện tử chính là Luật giao dịch điện tử với 54 điều khoản được quy định trong 8 chương, được ban hành ngày 29/11/2005. Phạm vi áp dụng của Luật rất rộng, bao gồm tất cả các giao dịch điện tử trong lĩnh vực hành chính, dân sự và thương mại. Định nghĩa về hợp đồng điện tử ; giao dịch hợp đồng điện tử và các quy định về giao dịch điện tử  đã được đề cập. Luật cũng nhấn mạnh rằng giá trị pháp lí của giao dịch điện tử không thể bị phủ nhận chỉ vì nó là thông điệp dữ liệu.  Hơn nữa, chữ kí điện tử, các quy định sử dụng chữ kí điện tử, dịch vụ chứng nhận chữ kí điện tử cũng được quy định trong luật. Có thể nói, luật giao dịch điện tử được soạn thảo dựa trên sự kết hợp của những luật mẫu và công ước mà chúng ta vừa đề cập ở trên. Mặc dù, Luật giao dịch điện tử không thể bao trùm hết tất cả các lĩnh vực của thương mại điện tử, nhưng nó là nền tảng cơ bản để xây dựng những nghị định và các văn bản hướng dẫn khác nhằm điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam.

5. Khái niệm hợp đồng thương mại điện tử

Quan hệ hợp đồng là mối quan hệ phổ biến trong xã hội, là cơ sở pháp lý chủ yếu để các bên chủ thể thỏa thuận nhằm thiết lập nên quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia giao dịch. Khi xã hội ngày càng phát triển thì các loại hợp đồng cũng ngày càng đa dạng hơn. Đặc biệt cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, giao dịch thương mại điện tử được hình thành với nhiều lợi thế như: Chi phí rẻ, tốc độ truyền tải thông tin nhanh chóng, không phụ thuộc vào khoảng cách địa lý và biên giới quốc gia… Sự gia tăng không ngừng của các giao dịch thương mại điện tử làm xuất hiện một loại hình hợp đồng mới đó là hợp đồng thương mại điện tử.
Điều 33 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 quy định:“Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu”Dựa vào cách hiểu nêu trên, có thể đưa ra khái niệm hợp đồng thương mại điện tử như sau: Hợp đồng thương mại điện tử là sự thỏa thuận giữa các bên trong đó có ít nhất một bên là thương nhân. Chủ thể còn lại là chủ thể có tư cách pháp lý nhằm xác lập hợp đồng dưới dạng thông điệp dữ liệu.
Hợp đồng trong thương mại điện tử có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, hợp đồng thương mại điện tử vẫn giữ các đặc điểm pháp lý của một hợp đồng thương mại, cụ thể: (i) Một bên chủ thể là thương nhân; (ii) Mục đích của hợp đồng trong thương mại điện tử là lợi nhuận; (iii) Đối tượng của hợp đồng là hàng hóa; (iv) Nội dung hợp đồng thương mại thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng, đó là các điều khoản do các bên thỏa thuận.
Thứ hai, hợp đồng thương mại điện tử có các đặc điểm riêng: (i) Hợp đồng được thể hiện hoàn toàn dưới dạng thông điệp dữ liệu; (ii) Trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng các bên không cần gặp trực tiếp mà thông qua các phương tiện điện tử. Đây là điểm khác biệt so với các hợp đồng được thực hiện theo cách thức thông thường.

Luật Minh Khuê( sưu tầm và biên tập)