1. Bảo đảm quyền kinh tế, xã hội, văn hóa là gì?

Bảo đảm quyền kinh tế, xã hội, văn hóa có thể hiểu là việc thực hiện trách nhiệm của Nhà nước, xã hội nhằm tạo ra các tiền đề, điều kiện cần thiết để mọi người thực hiện được các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa của mình đã được pháp luật ghi nhận trên thực tế.

Như vậy, bảo đảm quyền kinh tế, xã hội, văn hóa bao hàm bảo đảm từ việc tiến hành xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật của Nhà nước đến cả việc bảo đảm thực hiện chính sách, pháp luật đó trên thực tế. Trong đó, bảo đảm pháp lý có ý nghĩa vô cùng quan trọng, góp phần thực hiện các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa cũng như các quyền khác trên thực tế.

2. Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa là gì?

Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (tiếng Anh: International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights, viết tắt: ICESCR) là một công ước quốc tế được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 16 tháng 12 năm 1966, có hiệu lực từ ngày 03 tháng 01 năm 1976. Các quốc gia tham gia Công ước phải cam kết trao các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cho các cá nhân, bao gồm quyền công đoàn và quyền chăm sóc sức khỏe, quyền giáo dục, và quyền được đảm bảo mức sống phù hợp. Tính tới ngày 15 tháng 12 năm 2008, đã có 160 quốc gia tham gia và 69 nước đã ký. Thêm 6 nước khác đã ký nhưng chưa thông qua Công ước: Belize, Comoros, Cuba, São Tomé và Príncipe, Nam Phi, và Hoa Kỳ.

Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa là một phần của Bộ Luật Nhân quyền Quốc tế, cùng với Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (gồm hai Nghị định thư tùy chọn thứ nhất và thứ hai)

Công ước được đặt dưới sự giám sát của Ủy ban các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa.

Việt Nam phê chuẩn Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa ngày 24 tháng 09 năm

3. Lịch sử hình thành

Tên gọi Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa bắt nguồn từ quá trình soạn thảo trùng với Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Một bản "Tuyên ngôn về các quyền cơ bản của con người" đã được đưa ra tại hội nghị thành lập Liên Hợp Quốc năm 1945, tức Hội nghị San Francisco. Sau đó, Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên Hợp Quốc được giao trách nhiệm soạn thảo và hoàn thiện nó. Mới đầu trong quá trình soạn thảo, bản thảo được chia nhỏ thành một tuyên ngôn về các quyền con người tổng quát và một bộ quy tắc ràng buộc các bên tham gia ký. Cái đầu tiên sau này trở thành Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và được thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948.

Bộ các quy tắc được tiếp tục soạn thảo, nhưng lại nảy sinh nhiều bất đồng giữa các thành viên Liên Hợp Quốc về sự tương quan mức độ quan trọng của các quyền dân sự và chính trị đối với các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, dẫn đến việc bộ quy tắc bị phân ra thành hai bộ nhỏ, "một cái chứa các quyền dân sự và chính trị, và cái kia chứa các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa". Hai bộ nhỏ này, gọi là hai công ước, tiếp tục được hoàn thiện tới mức bao quát và đầy đủ nhất có thể, và sau đó được đưa ra cho các thành viên ký cùng lúc. Mỗi Công ước đều chứa một điều khoản quy định quyền tự quyết của mọi dân tộc.

Như vậy, Bộ quy tắc thứ nhất trở thành Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, trong khi cái thứ hai trở thành Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa. Cả hai bản thảo công ước được đưa ra thảo luận tại cuộc họp Đại hội đồng Liên Hợp Quốc năm 1954, và được chấp thuận vào năm 1966.

4. Nội dung cơ bản của Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa

Công ước dựa theo cấu trúc của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, gồm có lời mở đầu và 31 điều nằm trong 5 phần. Mở đầu Công ước là lời khẳng định chân lý bất di bất dịch rằng việc công nhận những phẩm giá vốn có và quyền bình đẳng của mọi thành viên trong cộng đồng nhân loại là nền tảng cho tự do, công lý và hoà bình trên thế giới. Do vậy, các quốc gia hội viên có trách nhiệm công nhận các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của mọi cá nhân, cụ thể như sau:

Phần I (Điều 1) công nhận quyền của mọi dân tộc được tự định đoạt thể chế chính trị, đường hướng phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa, gồm cả quyền tự do định đoạt các nguồn tài nguyên của mình miễn là không làm phương hại đến các nghĩa vụ phát sinh từ hợp tác kinh tế quốc tế, dựa trên nguyên tắc các bên cùng có lợi và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế. Trong mọi trường hợp, không thế lực nào được phép tước đi quyền sinh kế của một dân tộc. Đồng thời, các nước hội viên chịu trách nhiệm thúc đẩy và tôn trọng quyền tự quyết của các lãnh thổ được nước đó bảo hộ hoặc phụ thuộc vào nó.

Phần II (Điều 2–5) thiết lập các nguyên tắc hiện thực hóa các quyền được Công ước bảo hộ. Nó quy định các quyền đó được công nhận mà không có sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc các thân trạng khác. Một quốc gia chỉ có thể đặt ra những hạn chế bằng các quy định pháp luật trong chừng mực những hạn chế ấy không trái với bản chất của các quyền nói trên và hoàn toàn vì mục đích "thúc đẩy phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ".

Phần III (Điều 6–15) liệt kê cụ thể các quyền được Công ước bảo hộ. Cụ thể là:

  • Quyền của mọi cá nhân được hưởng những điều kiện làm việc "công bằng và thuận lợi" và quyền tự do thành lập hoặc gia nhập các tổ chức công đoàn (Điều 6, 7, và 8);
  • Quyền được hưởng an sinh xã hội, gồm cả bảo hiểm xã hội (Điều 9);
  • Quyền tự do lập gia đình, bao gồm cả quyền của các bà mẹ được nghỉ dưỡng trước và sau khi sinh, và có các cơ chế bảo vệ trẻ em. (Điều 10);
  • Quyền được thụ hưởng mức sống phù hợp, bao gồm các khía cạnh về ăn, mặc, ở và được "không ngừng cải thiện đời sống" (Điều 11);
  • Quyền được hưởng một "tiêu chuẩn sức khoẻ về thể chất và tinh thần ở mức cao nhất có thể". (Điều 12);
  • Quyền được giáo dục, bao gồm phổ cập giáo dục tiểu học miễn phí, giáo dục phổ thông đại trà và quyền cơ hội tiếp cận bình đẳng các trường đại học. Những việc này nhắm tới mục tiêu "phát triển toàn diện nhân cách và ý thức về phẩm giá con người", và tạo điều kiện cho tất cả mọi người tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội (Điều 13 và 14);
  • Quyền được tham gia vào đời sống văn hoá và hoạt động khoa học (Điều 15).

Nhiều trong số các quyền trên yêu cầu các hành động cụ thể để hiện thực hóa chúng.

Phần IV (Điều 16–25) quy định cách thức báo cáo và giám sát Công ước, cùng những bước mà các quốc gia hội viên phải tuân theo để thực thi Công ước. Chiếu theo quy định, Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên Hợp Quốc - bây giờ là Ủy ban các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa - chịu trách nhiệm giám sát và tham mưu cho Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc về các biện pháp thích hợp để hiện thực hóa các quyền được bảo hộ.

Phần V (Điều 26–31) quy định cách thức phê chuẩn, thời gian có hiệu lực và cách sửa đổi bổ sung sau này.

5. Quy định của Luật Việt Nam đối với quyền con người về kinh tế, văn hóa, xã hội

5.1. Về quyền bình đẳng

Điều 7 UDHR quy định “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị” và Điều 3 ICCPR quy định các quốc gia thành viên cam kết đảm bảo quyền bình đẳng giữa nam và nữ đối với mọi quyền kinh tế, xã hội và văn hoá mà Công ước quy định.Xuyên suốt các quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) 2017 đều quy định người bị thiệt hại, không phân biệt nam nữ hay giới tính, kể cả người thành niên hay chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hay hạn chế năng lực hành vi dân sự, v.v. đều có quyền được yêu cầu bồi thường và được giải quyết yêu cầu bồi thường miễn sao đáp ứng đủ các căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định tại Điều 7 Luật TNBTCNN 2017. Quy định này cũng được hiểu là không chỉ công dân của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mới được bồi thường mà còn được áp dụng đối với người nước ngoài. Theo đó, các căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước bao gồm: (i) có một trong các căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và yêu cầu bồi thường tương ứng quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật; (ii) có thiệt hại thực tế của người bị thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định của Luật này; (iii) có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại.

5.2. Về quyền sở hữu tài sản

Điều 17 UDHR quy định “mọi người đều có quyền sở hữu tài sản của riêng mình hoặc tài sản sở hữu chung với người khác. Không ai bị tước đoạt tài sản một cách tuỳ tiện”. Bên cạnh đó, Điều 2 ICESCR quy định “mỗi quốc gia thành viên Công ước này cam kết sẽ tiến hành các biện pháp, một cách riêng rẽ và thông qua sự hợp tác giúp đỡ quốc tế, đặc biệt là các biện pháp kinh tế và kỹ thuật, sử dụng tới mức tối đa các tài nguyên sẵn có của mình, nhằm đạt được việc bảo đảm ngày càng đầy đủ các quyền được thừa nhận trong Công ước này bằng mọi biện pháp thích hợp, đặc biệt kể cả việc thông qua những biện pháp lập pháp.

Các quốc gia thành viên cam kết bảo đảm rằng các quyền được nêu trong Công ước này sẽ được thực hiện không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc các quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc các địa vị khác.Các quốc gia đang phát triển có thể quyết định mức độ đảm bảo các quyền kinh tế mà đã được ghi nhận trong Công ước này cho những người không phải là công dân của họ, có xem xét thích đáng đến các quyền con người và nền kinh tế quốc dân của mình”.

Như vậy, khác so với yêu cầu đặt ra đối với Nhà nước trong ICCPR, đối với các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội, yêu cầu Nhà nước căn cứ vào biện pháp kinh tế và kỹ thuật, các tài nguyên sẵn có của mìnhbảo đảm ngày càng đầy đủ các quyền - nói cách khác việc bảo đảm thực hiện quyền này có lộ trình (trong khi đó, để thực hiện các quyền dân sự, chính trị, yêu cầu Nhà nước phải thực hiện ngay thông qua các biện pháp lập pháp hoặc các biện pháp khác).
Để ghi nhận quyền sở hữu tài sản rong lĩnh vực bồi thường nhà nước, Nhà nước đã ghi nhận trách nhiệm trong việc trả lại tài sản cho người bị thiệt hại. Cụ thể, khoản 1 Điều 30 Luật TNBTCNN 2017 quy định tài sản bị thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu trái pháp luật phải được trả lại ngay khi quyết định thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu bị hủy bỏ. Và đặc biệt, so với pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Luật TNBTCNN 2017 đã bổ sung nhiều loại thiệt hại được bồi thường, tăng mức bồi thường thiệt hại về tinh thần đối với một số trường hợp, lương hóa một số loại thiệt hại về vật chất, ví dụ, Điều 23 Luật quy định về thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. Theo đó, trường hợp tài sản đã bị phát mại, bị mất thì thiệt hại được xác định căn cứ vào giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật, tác dụng và mức độ hao mòn của tài sản trên thị trường tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật TNBTCNN 2017. Thời điểm để xác định hiện trạng tài sản làm căn cứ tính mức bồi thường là thời điểm thiệt hại xảy ra.

Trường hợp tài sản bị hư hỏng thì thiệt hại được xác định là chi phí có liên quan theo giá thị trường tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật TNBTCNN 2017 để sửa chữa, khôi phục lại tài sản; v.v. Ngoài ra, Luật không chỉ để bảo đảm quyền và lợi ích cho đối tượng hại là cá nhân, mà còn quy định về việc bồi thường thiệt hại đối với tổ chức, được thể hiện tại Điều 2 về đối tượng được bồi thường. Theo đó, người bị thiệt hại là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần do người thi hành công vụ gây ra thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định tại Luật TNBTCNN 2017.

5.3. Về quyền được trả lương

Khoản 2 Điều 23 UDHR quy định “Người làm việc được trả lương tương xứng và công bằng, đủ để bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống xứng đáng với nhân phẩm, và nếu cần, sẽ được bổ sung bằng những biện pháp bảo trợ xã hội khác”; điểm i khoản 1 Điều 7 ICESCR quy định “tiền lương thoả đáng và tiền công bằng nhau cho những công việc có giá trị như nhau, không có sự phân biệt đối xử nào ... được trả công ngang nhau đối với những công việc giống nhau”. Người bị thiệt hại đáng lẽ làm việc để bảo đảm cuộc sống cho bản thân và gia đình, tuy nhiên, vì hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ mà cản trở người bị thiệt hại thực hiện quyền làm việc và được trả lương của mình, tương tự đối với tổ chức, vì hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ mà ảnh hưởng đến thu nhập doanh nghiệp.

Vì vậy, Điều 24 Luật TNBTCNN 2017 quy định cụ thể trường hợp thu nhập thực tế của người bị thiệt hại là cá nhân và thu nhập thực tế của người bị thiệt hại là tổ chức. Đồng thời, để bảo đảm nguyên tắc “trả lương tương xứng và công bằng” như đã được đề cập trong khoản 2 Điều 23 UDHR, khoản 1 Điều 24 Luật TNBTCNN 2017 đã phân loại các trường hợp có thu nhập ổn định từ tiền lương, tiền công; thu nhập không ổn định từ tiền lương, tiền công và thu nhập không ổn định theo mùa vụ của người bị thiệt hại là cá nhân làm căn cứ xác định mức thiệt hại được bồi thường. Việc phân loại các loại thu nhập để tính thiệt hại được bồi thường theo quy định của Luật TNBTCNN 2017 đã thể hiện rõ nguyên tắc “tương xứng, công bằng” với thiệt hại bị xâm phạm của người bị thiệt hại và phù hợp với các điều ước quốc tế.

5.4. Quyền được chăm sóc y tế, sức khỏe:

Khoản 1 Điều 25 UDHR quy định ai cũng có quyền được hưởng một mức sống khả quan về phương diện sức khỏe và an lạc cho bản thân và gia đình kể cả y tế và những dịch vụ cần thiết. 

Điều 12 ICESCR ghi nhận các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận quyền của mọi người được hưởng một tiêu chuẩn sức khoẻ về thể chất và tinh thần ở mức cao nhất có thể được. Nội luật hóa quy định này, tại các điều 20, 38 và 58 Hiến pháp 2013 đã ghi nhận quyền và trách nhiệm của Nhà nước trong việc chăm sóc sức khỏe của con người. Để thực hiện quy định này, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có Luật TNBTCNN 2017. Theo đó, Điều 26 Luật TNBTCNN 2017 quy định về thiệt hại Nhà nước bồi thường do sức khỏe bị xâm phạm, gồm các chi phí khám bệnh, chữa bệnh; chi phí bồi dưỡng sức khỏe; chi phí cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian khám bệnh, chữa bệnh và trong trường hợp người bị thiệt hại mất khả năng lao động v.v.