1. Đánh nhau gây thương tích (Ném đá vào đầu gây tổn hại 51 % sức khỏe) thì bị phạt như thế nào ?

Thưa luật sư, Cháu tôi 17 tuổi. Có ném đá vào đầu 1 người gây tổn thương 51% sức khỏe. Bây giờ bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì mức án phạt là như thế nào ah ?
Mong luật sư trả lời giúp.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự:

Điều 12 có quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:

1. Người từ đủ 16 tui trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

Ví dụ, tội Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi yêu cầu về độ tuổi của người thực hiện hành vi phạm tội phải từ đủ 18 tuổi trở lên.

Tuy nhiên, Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội cố ý gây thương tích không có quy định riêng về độ tuổi nên vì em bạn đã 17 tuổi, em bạn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này. Cụ thể:

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

...

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

...

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

Theo thông tin bạn cung cấp, em trai bạn sử dụng đá để gây thương tích cho người khác. Tại Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành có hướng dẫn tại tiểu mục 3.1 mục 3 đã nêu ra "hung khí nguy hiểm" có bao hàm cả khái niệm "phương tiện nguy hiểm" như sau:

"Phương tiện nguy hiểm" là công cụ, dụng cụ được chế tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của con người (trong sản xuất, trong sinh hoạt) hoặc vật mà người phạm tội chế tạo ra nhằm làm phương tiện thực hiện tội phạm hoặc vật có sẵn trong tự nhiên mà người phạm tội có được và nếu sử dụng công cụ, dụng cụ hoặc vật đó tấn công người khác thì sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khoẻ của người bị tấn công

Và về vật có sẵn trong tự nhiên có đưa ra ví dụ như: gạch, đá, đoạn gậy cứng, chắc, thanh sắt...

Đối chiếu với các quy định nêu trên, hành vi dùng đá gây thương tích cho người khác của em bạn được xếp vào chi tiết "sử dụng hung khí nguy hiểm", cụ thể là phương tiện nguy hiểm ở đây là gạch, đá. Từ đó, em trai bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Em bạn có thể bị áp dụng mức phạt tù từ 5 năm đến 10 năm tù. Bên cạnh đó em trai bạn 17 tuổi như vậy nếu bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì cũng được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật đối với những người chưa thành niên phạm tội theo quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Tham khảo nội dung: Tư vấn về vụ hình sự cố ý gây thương tích trong tình trạng say rượu ?

2. Tư vấn xử lý trường hợp va chạm, đánh nhau gây thương tích cho cả hai bên ?

Thưa luật sư, Chúng tôi có xảy ra va chạm và đánh nhau trên đường. Tuy chưa kiểm tra thương tích nhưng có lẽ 2 người chặn đường đánh chúng tôi nặng hơn. Giờ công an đang điều tra nguyên nhân sự việc. Giờ tôi muốn hỏi 2 bên chúng tôi, ai là người bị hại,và trong lúc tôi dùng dao có đấm chúng 2 người đấy bị thương nặng thì có phải chiu trách hình sự không thưa luật sư ?
Kính mong luật sư giúp tôi giải đáp.

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến công ty Luật Minh Khuê, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Theo như các bạn đề cập trong câu hỏi, các bạn là người bị động trong vụ việc và rơi vào tình trạng buộc phải phản kháng lại (phòng vệ). Nếu đúng như vậy, nạn nhân cũng là bên có lỗi và phải chịu một phần hậu quả họ gây ra. Tuy nhiên, trường hợp những người đó bị thương tật từ 31 % trở lên, các bạn vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội "Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng" được quy định tại Điều 107 Bộ luật hình sự 1999 (Luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009) như sau:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên hoặc dẫn đến chết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội đối với nhiều người thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm.

Trân trọng ./.

>> Xem thêm nội dung: Tư vấn tội cố ý gây thương tích khi dùng hung khí ?

3. Tư vấn về vụ án đánh nhau gây thương tích ?

Chào luật sư! Tôi có một số thắc mắc, mong nhận được sự tư vấn của luật sư, tôi xin cảm ơn. Ngày 23/08/2015, anh trai tôi có đi dự đám cưới của 1 người bạn và có uống bia rượu. Trong đám cưới có gặp một số bạn cũ, vì vậy khi ra về, anh trai tôi cùng nhóm bạn đã đi đến quán karaoke tiếp tục nhậu.

Trong lúc nhậu thì có một anh trong nhóm đi sang phòng khác và nói chuyện với 1 nhóm người khác ( không biết nội dung câu chuyên như thế nào, nhưng 2 bên đã có mâu thuẫn từ trước). Khi nghe có tiếng cãi nhau, một anh khác trong nhóm sang xem và nói chuyện. Anh trai tôi đứng ở cửa phòng xem và bị một người bên nhóm kia đánh một chai bia vào đầu, anh trai tôi la lên bị đánh rồi 2 bên đánh nhau. Nhóm anh trai tôi cũng có dùng chai bia đánh 2 người nhóm kia bị thương ở đầu. Ngày 26/08/2015 anh trai tôi cùng nhóm bạn bị bắt và giam ở huyện. Gia đình tôi và các gia đình khác có đến gia đình bị hại thăm hỏi nhưng họ từ chối gặp mặt. Tất cả tình tiết liên quan đến vụ án tôi được nghe những người chứng kiến vụ án kể lại chứ không nghe trực tiếp từ anh trai tôi. Vì anh trai tôi không cho gia đình biết khi xảy ra vụ việc.

Luật sư cho tôi hỏi trường hợp anh trai tôi có thể xem là đánh nhau có tổ chức không, có nằm trong khung phạt của luật hình sự và có bị phạt tù không (chưa có tiền án tiền sự trước đó)? Nếu phạt tù thì có cách nào để bào chữa cho anh trai tôi không bị tù hoặc hưởng án treo không? Trong trường hợp này thì người nhà bị cáo có được biết các tình tiết của vụ án, có quyền xem camera quan sát và biết kết quả giám định thương tật của bị hại không ạ?

Xin chân thành cảm ơn!

 Tư vấn về vụ án đánh nhau gây thương tích ?

Luật sư tư vấn Luật hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:

Thứ nhất, Theo quy định tại khoản 3 Điều 20 Bộ luật hình sự năm 1999 ( được sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì: "Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm."

Như vậy, trong tình huống trên, hành vi của anh trai của bạn và nhóm bạn không phải là phạm tội có tổ chức mà đây chỉ là dạng đồng phạm giản đơn, tất cả những người thực hiện hành vi đều là người thực hành.

Thứ hai, hành vi của anh trai bạn có phải chịu trách nhiệm hình sự không?

Theo quy định tại Điều 104 Bô luật hình sự thì:

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Trong tình huống trên, bạn không nói rõ mức độ thương tật của nạn nhân là bao nhiêu phần trăm nên chúng tôi không thể kết luận cụ thể được là anh trai bạn có phạm tội hay không. Trong trường hợp của anh trai bạn, nếu nạn nhân bị thương tật ở mức độ thương tật thỏa mãn các điều kiện như điều luật quy định thì anh trai bạn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với khung hình phạt quy định trong điều luật.

Thứ ba, nếu phạt tù thì có cách nào để bào chữa cho anh trai bạn không bị tù hoặc hưởng án treo không?

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 :

Điều 105: Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại

1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

2. Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ.

Như vậy, nếu anh trai bạn bị xử lý theo quy định của khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự thì gia đình bạn có thể thỏa thuận với người bị hại về việc không khởi tố vụ án hình sự hoặc yêu cầu họ rút đơn yêu cầu khởi tố nếu họ đã khởi tố, theo đó, giữa anh trai bạn và người bị hại sẽ không bị chi phối bởi Bộ luật hình sự nữa mà sẽ theo sự thỏa thuận của hai bên.

Về việc hưởng án treo:

Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 3 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần buộc phải chấp hành hình phạt tù.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng án treo thì các điều kiện được hưởng án treo là:

1. Chỉ xem xét cho người bị xử phạt tù hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Bị xử phạt tù không quá 3 năm về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng theo phân loại tội phạm quy định tại khoản 3 Điều 8 của Bộ luật hình sự;
b) Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, công tác; không vi phạm các điều mà pháp luật cấm; chưa bao giờ bị kết án, bị xử lý vi phạm hành chính, bị xử lý kỷ luật.
Trường hợp người phạm tội có án tích nhưng đã được xóa án tích, được đương nhiên xóa án tích thì coi là chưa bị kết án; đã bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật nhưng đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật thì được coi là chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, nhưng không phải là có nhân thân tốt. Việc cho hưởng án treo đối với những trường hợp này phải hết sức chặt chẽ. Chỉ có thể xem xét cho hưởng án treo khi thuộc một trong các trường hợp sau:
b1) Người bị kết án từ trên 3 năm tù đến 15 năm tù về tội do cố ý (kể cả trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều tội hoặc nhiều bản án) mà thời gian được xóa án tích tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 2 năm;
b2) Người bị kết án đến 3 năm tù về tội do cố ý mà thời gian được xóa án tích tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 1 năm;
b3) Người bị kết án về các hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ mà thời gian được xóa án tích tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 1 năm;
b4) Người bị kết án về các tội do vô ý mà đã được xóa án tích;
b5) Người đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc từ hai lần trở lên mà thời gian được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 2 năm;
b6) Người đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc một lần và có nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 2 năm;
b7) Người đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc mà thời gian được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 18 tháng;
b8) Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật từ hai lần trở lên mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 18 tháng;
b9) Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật về hành vi có cùng tính chất với hành vi phạm tội lần này mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 1 năm;
b10) Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 6 tháng;
b11) Người đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính;
c) Có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng;
d) Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự và có từ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên trong đó có ít nhất một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; nếu có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì phải có từ ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự.
Những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự là những tình tiết được hướng dẫn tại điểm c mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04-8-2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999”;
đ) Có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về tham nhũng.

Như vậy, nếu anh trai bạn thỏa mãn những điều kiện trên thì sẽ được hưởng án treo theo quy định của pháp luật.

Thứ tư, trong trường hợp này thì người nhà bị cáo có được biết các tình tiết của vụ án, có quyền xem camera quan sát và biết kết quả giám định thương tật của bị hại không?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 50 Bộ luật tố tụng hình sự thì:

2. Bị cáo có quyền:

a) Được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định đình chỉ vụ án; bản án, quyết định của Tòa án; các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này;

b) Tham gia phiên toà;

c) Được giải thích về quyền và nghĩa vụ;

d) Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này;

đ) Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;

e) Tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa;

g) Trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa;

h) Nói lời sau cùng trước khi nghị án;

i) Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án;

k) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Ngoài ra, pháp luật không quy định quyền và nghĩa vụ của người nhà bị cáo do họ là người không có liên quan đến vụ án, nên người nhà bị cáo không có các quyền trên như bạn hỏi, những quyền đó thuộc về cơ quan điều tra, cơ quan giám định, tuy nhiên, bạn có thể thỏa thuận với người nhà bị hại về việc được biết kết quả giám định thương tích hay những vẫn đề khác có liên quan, tuy nhiên đây không phải là nghĩa vụ của họ.

Trân trọng./.

>> Tham khảo ngay nội dung: Tội cố ý gây thương tích cho người khác có thể được hưởng án treo không ?

4. Đánh nhau gây thương tích bị phạt như thế nào ?

Kính chào luật sư Minh Khuê. Hiện tại em của em có liên quan tới vụ án cố ý gây thuơng tích. Em trai em Nguyễn Văn A sinh 30/11/1999. Thông tin em tìm hiểu và dò hỏi được về vụ việc như sau: Em của em tên A đang chơi gần nhà có hai thanh niên là B và C tới, anh B trong tình trạng say xỉn trước đó không biết có mâu thuẩn gì ? (anh B là bị hại - người viết đơn kiện) Anh B và C chạy tới địa phương kiếm chị C và nói chuyện. Thấy vậy em của em và hai người bạn có đi ra xem, anh B hỏi em trai em "mày muốn làm gì?" rồi đập vỡ chai rượu, đòi đánh em của em. Sau đó em của em chạy vào hẻm lấy được con dao con chạy ra, trong lúc ẩu đả thì anh B bị thương ở tay, đứt gân động mạch chủ ảnh huởng hai ngón út và áp út.
Sau khi xảy ra vụ việc, gia đình em và gia đình những người có liên quan đã đến xin lỗi và có mang 30 triệu đi bồi thường nhưng gia đình anh B không chịu, đòi tới 120 triệu. Gia đình và mọi người liên quan không có khả năng nên họ đã đưa đơn kiện. Xin phép hỏi luật sư trong tình huống này thì em của em phạm tội như thế nào? Có được giảm hình phạt hay có cách khắc phục không ạ?
Mong luật sư tư vấn giúp đỡ giùm em. (Ngày xảy ra vụ việc là ngày 29/11/2015 trước sinh nhật em trai em 1 ngày )

Đánh nhau gây thương tích ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 ( được sửa đổi, bổ sung năm 2009) về tội cố ý gây thương tích như sau:

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP hướng dẫn một số quy định của Bộ luật Hình sự quy định như sau:

Về tình tiết "gây cố tật nhẹ cho nạn nhân" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự.

"Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân" là hậu quả của hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân để lại trạng thái bất thường, không thể chữa được cho một bộ phận cơ thể của nạn nhân với tỷ lệ thương tật dưới 11% khi thuộc một trong các trường hợp: làm mất một bộ phận cơ thể của nạn nhân; làm mất chức năng một bộ phận cơ thể của nạn nhân; làm giảm chức năng hoạt động của một bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ của nạn nhân.

Có thể lấy một số trường hợp sau đây trong Bản quy định tiêu chuẩn thương tật (ban hành kèm theo Thông tư số 12/TTLB ngày 26/7/1995 của Liên Bộ Y tế, Lao động - Thương binh và Xã hội "quy định về tiêu chuẩn thương tật và tiêu chuẩn bệnh tật mới") để làm ví dụ:

a. Về trường hợp làm mất một bộ phận cơ thể của nạn nhân

Ví dụ: gây thương tích làm mất đốt ngoài (đốt 2) của ngón tay cái hoặc làm mất hai đốt ngoài (2+3) của ngón tay trỏ có tỷ lệ thương tật từ 8% đến 10% (các điểm a và b mục 5, phần IV, Chương I);

b. Về trường hợp làm mất chức năng một bộ phận cơ thể của nạn nhân

Ví dụ: gây thương tích làm cứng khớp các khớp liên đốt ngón tay giữa (III) ở tư thế bất lợi có tỷ lệ thương tật từ 7% đến 9% (điểm c mục 5, phần IV, Chương I);

c. Về trường hợp làm giảm chức năng một bộ phận cơ thể của nạn nhân

Ví dụ: gây thương tích làm một mắt giảm thì lực từ 4/10 đến 5/10, mắt kia bình thường có tỷ lệ thương tật từ 8% đến 10% (mục 7, phần II, Chương VIII);

d. Về trường hợp làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ của nạn nhân

Ví dụ: gây thương tích để lại sẹo to, xấu ở vùng trán, thái dương có tỷ lệ thương tật từ 6% đến 10% (điểm b, mục 1, phần I, Chương IV).

2. Về khái niệm "vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác" quy định tại điểm d khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự

2.1. "Vũ khí" là một trong các loại vũ khí được quy định tại khoản 1 Điều 1 Quy chế quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (ban hành kèm theo Nghị định số 47/CP ngày 12/8/1996 của Chính phủ).

2.2. "Phương tiện nguy hiểm" là công cụ, dụng cụ được chế tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của con người (trong sản xuất, trong sinh hoạt) hoặc vật mà người phạm tội chế tạo ra nhằm làm phương tiện thực hiện tội phạm hoặc vật có sẵn trong tự nhiên mà người phạm tội có được và nếu sử dụng công cụ, dụng cụ hoặc vật đó tấn công người khác thì sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khoẻ của người bị tấn công.

a. Về công cụ, dụng cụ

Ví dụ: búa đinh, dao phay, các loại dao sắc, nhọn...

b. Về vật mà người phạm tội chế tạo ra

Ví dụ: thanh sắt mài nhọn, côn gỗ...

c. Về vật có sẵn trong tự nhiên

Ví dụ: gạch, đá, đoạn gậy cứng, chắc, thanh sắt...

Như vậy: căn cứ vào các quy định trên, em bạn phạm tội cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự Việt Nam. Do bạn không nói rõ nạn nhân bị em bạn hành hung gây thương tích có tỉ lệ thương tật là bao nhiêu phần trăm, tuy nhiên, em bạn đã có hành vi gây thương tích cho người khác thuộc các trường hợp:

1. gây cố tật nhẹ

2. dùng vũ khí, phương tiện nguy hiểm theo quy định tại Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP.

Vậy dù tỷ lệ thương tật của nạn nhân có nhỏ hơn 11% thì hành vi của em bạn vẫn cấu thành tội cố ý gây thương tích.

Về bồi thường thiệt hại cho bên bị thương tích, căn cứ vào Điều 609 Bộ luật dân sự 2005 như sau:

Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Chi phí hợp lý được hướng dẫn bởi khoản 4 Mục 1 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP như sau:

4. Chi phí hợp lý

Các khoản chi phí hợp lý quy định tại các điểm a và c khoản 1 Điều 609, các điểm b và c khoản 1 Điều 610 và điểm a khoản 1 Điều 611 BLDS là chi phí thực tế cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ của thiệt hại, phù hợp với gá trung bình ở từng địa phương tại thời điểm chi phí.

Vậy bạn có thể căn cứ vào các chi phí thực tế cần thiết để điều trị thương tật của người bị hại, đồng thời căn cứ với mức giá trung bình ở địa phương bạn tại thời điểm cấp cứu, điều trị thương tật để xác định mức bồi thường cho phù hợp.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

5. Đánh người gây thương tích bị xử lý thế nào ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Có người đến nhà tôi vứt phân bẩn nhưng chưa bắt được quả tang chỉ thấy giống vì có camêra quay lại hình ảnh nhưng khi người đó đến gần nhà tôi và chúng tôi xông ra đánh đạp túi bụi và người đó nhập viện hơn tuần vậy xin hỏi luật sư gia đình tôi có bị tội gì không?
Cảm ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

- Hành vi đánh người gây thương tích tùy mức độ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc xử phạt vi phạm hành chính:

TH1: Truy cứu trách nhiệm hình sự:

Hành vi đánh người gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều 104, Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa dổi, bổ sung năm 2009) như sau:

"Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân."

Nếu bạn và những người trong gia đình đánh người gây thương tích thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tùy vào tỷ lệ thương tật của người bị hại theo quy định trên.

TH2: Xử phạt vi phạm hành chính

Nếu việc gây thương tích cho người khác chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì bạn bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại ĐIểm a Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình như sau:

"Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng

.....

2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;"

Ngoài ra, nếu lỗi hoàn toàn do bên bạn gây ra thì bên bạn còn phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho người bị hại theo quy định của Bộ luật dân sự.

>> Bài viết tham khảo thêm: Tội cố ý gây thương tích theo bộ luật hình sự năm 2015 thì mức phạt thế nào ?

6. Đánh người gây thương tích có tổ chức và đã phạm tội nhiều lần sẽ bị xử tội như thế nào?

Thưa luật sư, xin hỏi: Gia đình hàng xóm và nhà em lâu nay luôn có xích mích. Nhà hàng xóm nhiều lần đập phá nhà em ( khoảng >6 lần, thiệt hại mỗi lần chỉ khoảng 1-2 triệu đồng). Ngoài ra còn 3 lần hành hung bị nặng hơn. Thương tích ở mặt và đầu ,ảnh hưởng đến thần kinh. Ngoài ra thì em bị 4 người đánh vào lần 1 và 1 người đàn ông đánh vào lần 2,3 . Vậy mong luật sư tư vấn là người đánh em sẽ bị xử lí ra sao và phạm phải những luật nào?
Em xin cảm ơn!

Đánh người gây thương tích có tổ chức và đã phạm tội nhiều lần sẽ bị xử tội như thế nào?

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau

Vấn đề của bạn được tư vấn như sau:

Như bạn trình bày: Nhà bạn và gia đình hàng xóm có xích mích. Tổng số lần nhà bạn bị nhà hàng xóm đập phá nhà bạn là hơn 6 lần.Số lần hành hung bạn là 3 lần. Hậu quả để lại bạn bị thương tích ở mặt và đầu ,ảnh hưởng đến thần kinh . Một trong các lần đó con gái bạn đi cùng và bà hàng xóm khác vào can cũng bị thương tích nhẹ. Vấn đề của bạn được pháp luật quy định như sau:

Thứ nhất là đối với hướng xử lý về vấn đề gia đình hàng xóm hành hung bạn và đập phá tài sản gia đình bạn.

Khi sự việc xẩy ra bạn phải có thông báo với chính quyền địa phương ( Công an xã, phường) đến can thiệp . Nếu không có mặt của chính quyền địa phương thì sau khi hậu quả xẩy ra bạn phải viết đơn tố cáo và có đơn yêu cầu cơ quan điều tra giám định thương tích ( Thời gian giám định thương tích kể từ khi thương tích xẩy ra , pháp luật không hạn chế) và yêu cầu định giá tài sản bị hư hỏng và hủy hoại.

Trong quá trình chữa trị sức khỏe và sửa chữa tài sản thì bạn phải giữ lại những hóa đơn ( ví dụ hóa đơn viện phí ), giấy từ liên quan để có cơ sở buộc bên gây hại phải bồi thường.

Thứ hai là quy định pháp luật đối với hành vi của gia đình hàng xóm nhà bạn.

Với hành tấn công gây thương tích và đập phá tài sản đối với bạn và gia đình bạn thì có thể bị cơ quan điều tra khởi tố với hai tội danh là : Tội cố ý gây thương tích và gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại điều 104 BLHS và Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản được quy định tại điều 143 Luật hình sự năm 1999 (Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009), văn bản mới: Luật hình sự năm 2015.

Thứ ba là nếu không đủ mức xử lý hình sự thì sẽ bị xử lý hành chính.

Đối với hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác thì căn cứ điểm e , khoản 3 , Điều 5 của Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định mức xử phạt hành chính là 2 triệu đến 3 triệu đồng. Cộng thêm việc tích thu tang vật phương tiện vi phạm.

Đối với hành vi đập phá tài sản của gia đình bạn thì căn cứ điểm a, Khoản 2, Điều 15 của Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình quy định mức xử phạt hành chính là 2 triệu đến 5 triệu đồng. Cộng thêm việc tích thu tang vật phương tiện vi phạm.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê