1. Khái niệm về đạo luật

Đạo luật là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội - quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành đổ cụ cụ thể hóa hiến pháp, nhằm điề ều chỉnh các loại quan hệ xã hội trong các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước.

Các đạo luật quy định các vấn đề cơ bản, quan trọng thuộc các lĩnh vực về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, quan hệ xã hội và hoạt động của công dân (Điều 20 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996).

Ví dụ: Luật giáo dục, Luật nghĩa vụ quân sự, Luật xây dựng, Luật hôn nhân và gia đình, Luật tổ chức Chính phủ,...

Các đạo luật được ban hành theo thủ tục chặt chẽ được quy định tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2001.

Các đạo luật có giá trị sau hiến pháp và không được trái với hiến pháp.

2. Tổng quan về hệ thống pháp luật

Việc gọi tên hệ thống pháp luật có nhiều quan điểm khác nhau, trong đó, có quan điểm cho rằng, hệ thống pháp luật bao gồm hai bộ phận là công pháp và tư pháp, quan điểm khác cho rằng cần phải phân biệt hai khái niệm: Hệ thống pháp luật và hệ thống pháp luật thực định và quan điểm chỉ có một khái niệm hệ thống pháp luật, không thể phân biệt rõ nét hai khái niệm hệ thống pháp luật và hệ thống pháp luật thực định. Như đã trình bày ở mở bài, hệ thống pháp luật là một khái niệm bao hàm rộng, bao gồm hai mặt cụ thể là: Hệ thống cấu trúc của pháp luật và hệ thống văn bản pháp luật.

a) Hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam bao gồm:

– Hiến pháp – Do Quốc hội ban hành, là văn bản pháp luật cao nhất.

– Luật hoặc Bộ luật – Do Quốc hội thông qua và Chủ tịch nước ký quyết định ban hành. Có thể kể một số Bộ luật như: Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật lao động, Bộ luật hàng hải

– Nghị quyết của Quốc hội

– Văn bản dưới luật gồm

+ Ủy ban thường vụ Quốc hội: Pháp lệnh, Nghị quyết

+ Chủ tịch nước: Lệnh, Quyết định

+ Chính phủ: Nghị định.

+ Thủ tướng Chính phủ: Quyết định

+ Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Nghị quyết

+ Chánh án Toà án nhân dân tối cao: Thông tư.

+ Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Thông tư.

+ Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ: Thông tư

+ Tổng Kiểm toán Nhà nước: Quyết định

+ Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội.

+ Thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

+ Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân. Bao gồm: Hội đồng nhân dân: Nghị quyết; Ủy ban nhân dân: Quyết định.

b) Hệ thống cấu trúc

– Ngành luật hiến pháp

– Ngành luật hành chính

– Ngành luật tài chính

– Ngành luật ngân hàng

– Ngành luật đất đai

– Ngành luật dân sự

– Ngành luật lao động

– Ngành luật hình sự

– Ngành luật kinh tế

Hiện nay, Việt Nam có hệ thống pháp luật phức tạp bậc nhất thế giới, hệ thống này được đặc trưng bởi sự đồ sộ, rắc rối do có quá nhiều loại văn bản pháp luật được ban hành, nhưng lại có quá nhiều kẻ hở và lỗ hổng, các quy định chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu đồng bộ với nhau, gây cản trở và đè nặng lên người dân, doanh nghiệp. Hệ thống pháp luật bị coi là thiếu tính thực tiễn và tính khả thi, thiếu sự minh bạch và không đi vào cuộc sống do quá trình xây dựng pháp luật thiếu tư duy, tầm nhìn, đầy cục bộ, thiếu công bằng và thể hiện lợi ích nhóm.

3. Phân biệt: Luật, Bộ luật, Đạo luật

a) Luật

Luật là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành để quy định các vấn đề cơ bản thuộc lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, chế độ công vụ, cán bộ, công chức, quyền và nghĩa vụ của công dân.

Luật cho phép hoặc cấm đoán những hành vi liên quan đến các mối quan hệ giữa các cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tổ chức, giữa các tổ chức với nhau, cũng như việc trừng phạt những cá nhân, tổ chức vi phạm hoặc làm trái các quy định mà luật đặt ra (gọi là quyền và nghĩa vụ), chế tài kèm theo.

Ví dụ: Luật Hôn nhân gia đình, Luật đất đai, Luật môi trường,…

b) Bộ luật

Bộ luật cũng là văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội thông qua có giá trị pháp lý cao, có mức độ hệ thống pháp lý cao nhất (chỉ sau Hiến pháp).

Bộ Luật có phạm vi điều chỉnh bao quát và rộng hơn so với 1 luật nào đó. Nội dung bao hàm và liên quan nhiều lĩnh vực trong xã hội. Được dẫn chiếu và điều chỉnh các vấn đề mà nội dung của nó không được quy định ở những luật (chuyên ngành) khác. Điều chỉnh các dẫn chiếu điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia kí kết

Ví dụ: Bộ luật dân sự, Bộ luật lao động, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự,…

c) Đạo luật

Đạo luật là 1 văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ trong một lĩnh vực nhất định mà người làm luật cho rằng nó chưa điều chỉnh được triệt để mọi vấn đề trong lĩnh vực đó, cần các văn bản hướng dẫn và/hoặc bổ sung khác linh hoạt theo thực tiễn pháp lý ở các nước theo thông luật (common law hay case law) thì sự định hướng, bổ sung trong tư pháp và hành pháp dựa trên các án lệ trước (precedent cases, gọi tắt là cases).

Theo nhiều ý kiến cho rằng: hệ thống pháp luật hiện nay của Việt Nam thì đạo luật và luật có ý nghĩa tương tự như nhau chẳng qua là do cách dùng từ.

4. Nguyên tắc áp dụng đạo luật

a. Nguyên tắc “ưu tiên áp dụng luật được ban hành sau” và nguyên tắc “ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành trước luật chung” trong áp dụng pháp luật ở một số nước
(1) Nguyên tắc “ưu tiên áp dụng luật được ban hành sau” là nguyên tắc cơ bản trong áp dụng pháp luật ở các nước theo truyền thống pháp điển hóa (Dân luật), có nguồn gốc từ Luật La Mã (lex posterior derogat legi priori). Chẳng hạn, Bộ luật Dân sự (BLDS) của Nhật Bản quy định, nguyên tắc ưu tiên áp dụng quy phạm có thời điểm ban hành sau (khi cùng một quan hệ được điều chỉnh bởi hai quy phạm pháp luật có nội dung khác nhau ở trong hai văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý ngang nhau, thì ưu tiên áp dụng quy phạm của văn bản được ban hành sau) là một trong ba nguyên tắc cơ bản để xác định vị trí của các quy phạm pháp luật dân sự trong hệ thống pháp luật (bên cạnh nguyên tắc tôn trọng tầm hiệu lực pháp lý của văn bản và nguyên tắc ưu tiên áp dụng quy phạm của pháp luật chuyên ngành).
Nguyên tắc này cũng được quy định tại khoản 3 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (BHVBQPPL) của nước ta.
(2) Nguyên tắc “ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành trước luật chung” cũng là một nguyên tắc có nguồn gốc từ Luật La Mã (lex specialis derogat legi generali). Nguyên tắc này được quy định trong hệ thống pháp luật ở nhiều nước, đặc biệt trong pháp luật dân sự và luật điều ước quốc tế, cụ thể:
- Nhật Bản: nguyên tắc ưu tiên áp dụng quy định của luật chuyên ngành: khi một quan hệ pháp luật được điều chỉnh bởi cả quy định của đạo luật chung và đạo luật chuyên ngành thì ưu tiên áp dụng quy định của luật chuyên ngành. Pháp luật Nhật Bản coi đối tượng điều chỉnh của các đạo luật là tiêu chí để phân định một luật là luật chuyên ngành hay là luật chung. BLDS được coi là luật chung, các quy định của pháp luật dân sự được coi là các quy định của luật chung, còn các quy định điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể bình đẳng về địa vị pháp lý (các quan hệ của luật tư) trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội có tính đặc thù như thương mại, bảo hiểm, chứng khoán, ngân hàng, dịch vụ… được coi là các quy định của luật chuyên ngành. Về kỹ thuật lập pháp, luật được coi là luật chuyên ngành phải bao hàm điều khoản quy định, luật này sẽ được ưu tiên áp dụng trước luật chung.
Luật Thương mại Nhật Bản cũng ghi nhận thứ tự ưu tiên áp dụng quy định của Luật để điều chỉnh các giao dịch kinh doanh, thương mại… trừ khi có quy định ở luật khác. Trường hợp Luật này không quy định, thì áp dụng tập quán thương mại, sau đó là quy định của BLDS.
- Hàn Quốc: Theo quy định của Luật Thương mại Hàn Quốc, chỉ áp dụng trật tự ưu tiên đối với các vấn đề liên quan đến thương mại. Trường hợp không thuộc quy định của Luật này thì sẽ ưu tiên tập quán pháp thương mại, sau đó là quy định của BLDS hoặc các luật khác.
- Đức: Tương tự như các quốc gia khác, trong một số lĩnh vực như hợp đồng, BLDS Đức quy định những vấn chung (mang tính phổ quát), còn những vấn đề riêng đặc thù của chuyên ngành do pháp luật chuyên ngành quy định cụ thể. Vì vậy, khi có sự không thống nhất giữa các quy định về cùng vấn đề trong BLDS và trong luật chuyên ngành thì quy định của luật chuyên ngành sẽ được ưu tiên áp dụng.
- BLDS Trung Quốc, Liên bang Nga, Vương quốc Campuchia… và nhiều nước khác đều quy định tương tự về nguyên tắc ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành trước quy định của BLDS.
b. Giải pháp xử lý mâu thuẫn phát sinh khi áp dụng nguyên tắc áp dụng pháp luật
Thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy, mâu thuẫn, xung đột pháp luật phát sinh khi văn bản luật chuyên ngành được ban hành trước văn bản luật chung (chẳng hạn, Luật Thương mại được ban hành trước so với BLDS). Để xử lý tình huống này, pháp luật các nước áp dụng giải pháp sau:
(1) Giải pháp tư pháp: Theo kinh nghiệm của Đức, việc giải quyết mâu thuẫn trong áp dụng các văn bản pháp luật cùng thứ bậc là do Tòa án thực hiện. Điều 126 Hiến pháp CHLB Đức quy định: “Các quan điểm khác nhau về việc tiếp tục tồn tại hiệu lực của pháp luật là pháp luật liên bang, được Tòa án hiến pháp liên bang giải quyết”. Tương tự, ở đa số các nước khác, khi giữa các quy định pháp luật được xem xét áp dụng có xung đột, toà án đóng vai trò là cơ quan giải thích và lựa chọn quy phạm để áp dụng.
(2) Quy định nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật:
- Nhật Bản: Pháp luật Nhật Bản quy định nguyên tắc theo thứ tự ưu tiên như sau:
(1). Ưu tiên áp dụng quy định của văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn;
(2) Ưu tiên áp dụng quy định của luật chuyên ngành trước quy định của luật chung;
(3) Ưu tiên áp dụng quy định của văn bản luật ban hành sau.
- Phillipines cũng áp dụng quy định nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn luật chung - luật riêng, luật ban hành trước - ban hành sau. Theo đó, (1) khi luật chung được ban hành trước, luật chuyên ngành được coi là trường hợp ngoại lệ đối với luật chung. Do đó, luật chung vẫn có hiệu lực và không bị bãi bỏ (vụ kiện Lichauco v. Apostol, 44 Phil 138), trừ khi vấn đề liên quan đến điều khoản ngoại lệ hay điều luật chuyên ngành. Tuy nhiên, trường hợp tồn tại mâu thuẫn giữa luật chuyên ngành và luật chung, thì quy định của luật chuyên ngành có ưu thế trước quy định có liên quan của luật chung; (2) Nếu luật chuyên ngành ban hành trước, cả luật chuyên ngành và luật chung đều có hiệu lực, trừ các trường hợp sau:
(i) Có điều khoản tuyên bố rõ ràng về điều ngược lại;
(ii) Hoặc tồn tại mâu thuẫn rõ ràng, nhất thiết và không thể hoá giải được (vụ kiện Cia General v. Coll. of Customs, 46 Phil. Cool);
(iii) Hoặc trừ khi luật chung được ban hành sau điều chỉnh toàn bộ chủ thể và rõ ràng nhằm mục đích thay thế luật chuyên ngành về nội dung đó (Vụ kiện Joaquin v. Navarro, 81 Phil. 373).
- Luật Ban hành văn bản Trung Quốc quy định, khi điều khoản quy định cụ thể, đặc biệt có mâu thuẫn với điều khoản chung của luật quốc gia, các quy định hành chính, các sắc lệnh địa phương, các quy định vùng tự trị và đặc khu hoặc các quy tắc do cùng một cơ quan ban hành, thì áp dụng điều khoản cụ thể, đặc biệt; nếu điều khoản mới mâu thuẫn với điều khoản cũ, thì áp dụng điều khoản mới.
Luật Minh KHuê (tổng hợp & phân tích)