1. Glass-Steagall Act được hiểu như thế nào?

Glass-Steagall Act là một thuật ngữ Kinh tế tài chính có nghĩa là Glass-Steagall Act là Đạo luật Glass-Steagall. Đây là nghĩa tiếng Việt của thuật ngữ Glass-Steagall Act - một thuật ngữ được sử dụng trong lĩnh vực kinh doanh.

Đạo luật Glass-Steagall đã được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua như một phần của đạo luật ngân hàng năm 1933. Được tài trợ bởi thượng nghị sĩ Carter Glass, cựu thư ký bộ tài chính và đại diện Henry Steagall, chủ tịch Ủy ban ngân hàng và tiền tệ House, đã cấm các ngân hàng thương mại tham gia kinh doanh ngân hàng đầu tư và ngược lại. Một biện pháp khẩn cấp để chống lại sự thất bại của gần 5.000 ngân hàng trong cuộc đại khủng hoảng. Glass-Steagall mất đi tiềm năng trong những thập kỷ tiếp theo và bị bãi bỏ một phần vào năm 1999. Tuy nhiên, trong thế kỷ 21, một cuộc khủng hoảng tài chính khác đã dẫn đến việc nói chuyện trong giới chính trị và kinh tế về việc hồi sinh hành động này.

2. Mục tiêu của Glass-Steagall Act

Đạo luật Glass-Steagall có hai mục tiêu chính: Ngăn chặn hoạt động chưa từng có đối với các ngân hàng và khôi phục niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng Hoa Kỳ; để cắt đứt mối liên kết giữa các hoạt động đầu tư và ngân hàng được cho là đã gây ra cho hay ít nhất, đã góp phần rất lớn vào sự sụp đổ của thị trường năm 1929 và suy thoái kinh tế.

Đạo luật Glass-Steagall nhằm cung cấp cho việc sử dụng tài sản của các ngân hàng một cách an toàn và hiệu quả hơn, điều chỉnh kiểm soát liên ngân hàng và ngăn chặn việc chuyển các quỹ không hợp lý sang đầu cơ hoạt động. Luật liên bang đã chỉ định một sự phân chia giữa ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư và các ngân hàng bị cấm trong liên bang cấm kinh doanh chứng khoán. Nó cũng thành lập Tổng công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang (FDIC), đảm bảo tiền gửi đến một số tiền nhất định. (Ban đầu là $ 2, 500, số tiền đó là $ 250, 000 vào năm 2017.) Các điều khoản bổ sung tạo ra Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC), một ủy ban gồm 12 thành viên thiết lập mức lãi suất mục tiêu và Quy chế Q, ngăn cấm các ngân hàng thanh toán lãi trên tài khoản tra cứu doanh nghiệp và mức lãi suất huy động tiết kiệm và các tài khoản tiền gửi khác.

Đạo luật Glass-Steagall nhằm chấm dứt các hoạt động ngân hàng mang tính đầu cơ đã dẫn đến việc đóng cửa hàng chục tổ chức tài chính trên khắp Hoa Kỳ và chịu trách nhiệm phần lớn cho sự sụp đổ của nền kinh tế. Thượng nghị sĩ Carter Glass (D-VA) là động lực đằng sau dự luật; nó không bao gồm việc tạo ra FDIC, cả Glass lẫn Tổng thống Franklin D. Roosevelt phản đối. Tuy nhiên, cuối cùng, Glass đã hợp tác với đại diện Henry Steagall (D-AL), chủ tịch của Ngân hàng Nhà ở và Ủy ban Tiền tệ, người ủng hộ mạnh mẽ việc thành lập cơ quan này như là một phương tiện để bảo vệ lợi ích của các ngân hàng nhỏ, nông thôn. Pháp luật đã được sửa đổi để bao gồm FDIC và được Roosevelt ký vào luật vào ngày 16 tháng 6 năm 1933

Trong suốt thế kỷ 20, khi các công ty cổ phần tư nhân và các công ty cho vay thương mại thay đổi phong cảnh của ngành ngân hàng, các nhà quản lý liên bang đã dần dần làm suy yếu nhiều sự bảo vệ được cung cấp bởi Đạo luật Glass-Steagall. 

3. Điểm mới của Đạo luật Glass-Steagall Act

Đạo luật Glass-Steagall đã tách ngân hàng thương mại khỏi ngân hàng đầu tư một cách hiệu quả và tạo ra Tổng công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang, cùng nhiều thứ khác. Đó là một trong những sáng kiến ​​lập pháp được tranh luận rộng rãi nhất trước khi được Tổng thống Franklin D. Roosevelt ký thành luật vào tháng 6 năm 1933.

Đạo này được thông qua trong vài ngày sau khi Tổng thống Franklin Roosevelt nhậm chức vào tháng 3 năm 1933 chỉ là bước khởi đầu của quá trình khôi phục niềm tin vào hệ thống ngân hàng. Quốc hội nhận thấy sự cần thiết phải cải cách đáng kể hệ thống ngân hàng, điều này cuối cùng đã được đưa ra trong Đạo luật Ngân hàng năm 1933, hay Đạo luật Glass-Steagall. Dự luật được thiết kế “nhằm cung cấp việc sử dụng tài sản của các ngân hàng an toàn và hiệu quả hơn, điều chỉnh việc kiểm soát liên ngân hàng, ngăn chặn việc chuyển tiền quá mức vào các hoạt động đầu cơ và cho các mục đích khác.

Một số thông tin cơ bản: Sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1929 và cuộc Đại suy thoái sau đó, Quốc hội lo ngại rằng các hoạt động ngân hàng thương mại và hệ thống thanh toán đang gánh chịu tổn thất do thị trường chứng khoán biến động. Một động lực quan trọng cho hành động này là mong muốn hạn chế việc sử dụng tín dụng ngân hàng để đầu cơ và hướng tín dụng ngân hàng vào những gì mà Glass và những người khác cho là sử dụng hiệu quả hơn, chẳng hạn như công nghiệp, thương mại và nông nghiệp.

Để giải quyết những lo ngại này, các điều khoản chính của Đạo luật Ngân hàng năm 1933 đã tách ngân hàng thương mại ra khỏi ngân hàng đầu tư một cách hiệu quả. Thượng nghị sĩ Glass là động lực đằng sau điều khoản này. Về cơ bản, các ngân hàng thương mại, nhận tiền gửi và cho vay, không còn được phép bảo lãnh phát hành hoặc kinh doanh chứng khoán, trong khi các ngân hàng đầu tư, bảo lãnh phát hành và xử lý chứng khoán, không còn được phép có mối quan hệ chặt chẽ với các ngân hàng thương mại, chẳng hạn như chồng chéo giám đốc hoặc quyền sở hữu chung. Sau khi đạo luật được thông qua, các tổ chức có một năm để quyết định xem họ sẽ chuyên về ngân hàng thương mại hay đầu tư. Chỉ 10% tổng thu nhập của các ngân hàng thương mại có thể đến từ chứng khoán; tuy nhiên, một ngoại lệ cho phép các ngân hàng thương mại bảo lãnh trái phiếu do chính phủ phát hành. 

Đạo luật cũng đưa ra quy định chặt chẽ hơn đối với các ngân hàng quốc gia đối với Hệ thống Dự trữ Liên bang, yêu cầu các công ty mẹ và các chi nhánh khác của các ngân hàng thành viên nhà nước phải thực hiện ba báo cáo hàng năm cho Ngân hàng Dự trữ Liên bang và Hội đồng Dự trữ Liên bang. Hơn nữa, các công ty nắm giữ ngân hàng sở hữu phần lớn cổ phần của bất kỳ ngân hàng thành viên nào của Cục Dự trữ Liên bang phải đăng ký với Fed và được Fed cho phép bỏ phiếu cổ phần của họ trong việc lựa chọn giám đốc của bất kỳ công ty con nào của ngân hàng thành viên đó.

Ngoài ra, đạo luật này đã đưa ra cái mà sau này được gọi là Quy định Q, trong đó quy định rằng tiền lãi không được trả cho các tài khoản séc và trao cho Cục Dự trữ Liên bang quyền thiết lập mức trần đối với tiền lãi có thể được trả cho các loại tiền gửi khác. Quan điểm cho rằng việc trả lãi tiền gửi dẫn đến sự cạnh tranh “quá mức” giữa các ngân hàng, khiến họ phải thực hiện các chính sách đầu tư và cho vay quá rủi ro để có đủ thu nhập trả lãi. Việc cấm các tài khoản không kỳ hạn chịu lãi suất đã bị bãi bỏ một cách hiệu quả bởi Đạo luật Bảo vệ Người tiêu dùng và Cải cách Phố Wall Dodd-Frank năm 2010. Bắt đầu từ ngày 21 tháng 7 năm 2011, các tổ chức tài chính được phép, nhưng không bắt buộc, cung cấp các tài khoản không kỳ hạn chịu lãi suất.

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về GLASS- STEAGALL ACT là gì ? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!