1. Đạo luật thống nhất

Đạo luật thống nhất là bộ luật được áp dụng trong nhiều tiểu bang đề cập đến sự phân phối tài sản trong các liên doanh. Trừ phi các đối tác quy định khác, thì họ sẽ chia sẻ ngang nhau về lợi nhuận và thặng dư còn lại, sau khi thanh toán nợ phải trả. Sự đóng góp trong liên doanh tương tự thiết lập một thỏa thuận hợp vốn, cung cấp cho mỗi đối tác quyền sử dụng tài sản sở hữu chung. Những quyền này không được phép nhượng lại, và các đối tác không chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ cá nhân của đối tác khác.

 

2. Đạo luật Trọng tài

Đạo luật Trọng tài OHADA (Tổ chức cho sự hài hòa ở Châu Phi của Luật Kinh doanh) là một trong những cải cách pháp lý ở Châu Phi nhằm mục đích thúc đẩy môi trường kinh doanh ổn định và giải quyết tranh chấp nhanh chóng, bằng cách hài hòa luật thương mại trong vòng mười bảy (17) các quốc gia thành viên với một bộ Đạo luật thống nhất.

Một trong những hành vi này là Đạo luật Trọng tài thống nhất OHADA, với các quy định về quản lý tố tụng trọng tài và thi hành phán quyết của trọng tài.

Về đặc điểm của Đạo luật Trọng tài OHADA

Đặc điểm thú vị nhất của Đạo luật Trọng tài thống nhất là nó đã thống nhất các luật trọng tài của các bên ký kết. Đạo luật có thể áp dụng cho các trọng tài có ghế của họ tại một trong các quốc gia ký kết. Theo bài viết 35, trong đó đề cập rằng Đạo luật thống nhất áp dụng cho dòngbất kỳ trọng tài nào ở các quốc gia ký kết, cả trọng tài quốc tế và trong nước được bao gồm trong phạm vi của nó. Đây có thể là trọng tài thể chế do Tòa án Công lý và Trọng tài chung quản lý (Tòa án công lý và trọng tài chung), nằm ở Abidjan, trung tâm thương mại của Pháp ngữ Tây Phi, hoặc là đến trọng tài diễn ra tại các quốc gia thành viên OHADA.

Một khía cạnh quan trọng khác của Đạo luật Trọng tài thống nhất OHADA là chế độ cho thách thức của phán quyết trọng tài. Theo Điều 25, các giải thưởng được đưa ra theo Đạo luật Trọng tài thống nhất không bị kháng cáo tại các tòa án trong nước, nhưng phải chịu một thỉnh nguyện (một thách thức hẹp hơn) theo thẩm phán trong nước có thẩm quyền, mà các quyết định của họ vẫn phải được sự chấp thuận của Tòa án Công lý chung ở Abidjan. Yêu cầu sửa đổi hoặc kiến ​​nghị từ bên thứ ba chỉ có thể được đệ trình lên tòa án trọng tài.

3. Ý nghĩa của Đạo luật Trọng tài OHADA

Đạo luật Trọng tài thống nhất cũng cung cấp một chế độ thuận lợi cho việc công nhận và thi hành các giải thưởng. Điều này hữu ích khi xem xét rằng không phải tất cả các quốc gia thành viên OHADA đều là thành viên của 1958 Công ước New York về công nhận và thi hành phán quyết trọng tài (Equatorial Guinea, Cộng hòa Congo, Togo và Guinea-Bissau không phải là thành viên của Công ước New York).

Đạo luật Trọng tài thống nhất OHADA là một sự phát triển tích cực theo hướng ổn định, chế độ pháp lý thống nhất và minh bạch cho trọng tài ở Tây Phi. Các tính năng chính của Đạo luật được kiểm tra tại đây, kết hợp với chi phí hạn chế cho các thủ tục, tạo ra một môi trường pháp lý cạnh tranh nhằm khuyến khích giải quyết tranh chấp về sự phù hợp của địa phương theo Đạo luật Trọng tài thống nhất, thay vì dùng đến trọng tài trước các tổ chức ở châu Âu hoặc xa hơn.

 

4. Xu hướng của các quốc gia trong việc xây dựng quy phạm pháp luật của tư pháp quốc tế

Trong việc xây dựng các quy phạm pháp luật của Tư pháp quốc tế thì hoàn thiện các quy phạm pháp luật trong các văn bản pháp luật quốc gia là giải pháp được các quốc gia ưu tiên lựa chọn. Điều này xuất phát từ việc xây dựng các quy phạm trong pháp luật quốc gia đơn giản và dễ dàng hơn việc xây dựng và thực hiện các điều ước quốc tế. Tuy nhiên, tùy theo đặc điểm của từng nước mà các quy phạm của Tư pháp quốc tế được xây dựng tập trung thành một đạo luật hoặc quy định rải rác trong các văn bản pháp luật về dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, tố tụng dân sự,…

Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế riêng để điều chỉnh các quan hệ của Tư pháp quốc tế. Các nước đã ban hành Luật Tư pháp quốc tế điển hình như:

- Khu vực châu Âu: Ba Lan (Luật TPQT ngày 11/12/1965); Hungary (Sắc luật về TPQT năm 1979); Cộng hòa liên bang Đức (Bộ luật về TPQT ngày 25/7/1986); Liên bang Thụy Sĩ (Switzerland’s Federal Code on Private International Law of 18 September 1987- CPIL); Vương quốc Bỉ (Law of 16 July 2004 holding the Code of Private International Law); Bulgaria (Bulgarian Private International Law Code of 04 May 2005); Italia (Luật TPQT năm 1995), Ucraina (Luật TPQT năm 2005),...

- Khu vực châu Á: Nhật Bản (Act on the General Rules of Application of Laws of 2006), Trung Quốc (Luật TPQT năm 2010), Đài Loan (Luật TPQT năm 2010),…

Có thể thấy, những nước đã ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế thường rơi vào một trong hai trường hợp: hoặc những nước Đông Âu trong quá trình thay đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình cho phù hợp với những biến đổi về thể chế kinh tế - chính trị; hoặc những nước có nền kinh tế phát triển cao, trình độ lập pháp đã đạt đến một mức độ phát triển nhất định và quan trọng nhất, các quan hệ pháp luật do Tư pháp quốc tế điều chỉnh đã tương đối ổn định. Bên cạnh những quốc gia theo xu thế này, phần lớn các quốc gia thuộc nhóm nước đang phát triển đều chọn giải pháp không ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế mà quy định các quy phạm của Tư pháp quốc tế trong nhiều văn bản khác nhau: Pháp, An-giê-ri, Liên bang Nga, Peru, Việt Nam, Lào, Thái Lan, Malaysia, một số nước Bắc Âu, các quốc gia châu Phi,… Trong số này có cả những nước có nền kinh tế - xã hội phát triển và có số lượng rất lớn. Nói một cách khác, số lượng các đạo luật Tư pháp quốc tế đã ban hành vẫn còn rất ít so với số lượng các hệ thống pháp luật quốc gia.

5. Nguyên nhân khiến nhiều quốc gia chưa ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế

Mặc dù đã trở thành một xu thế hiện thực và đang phát triển nhưng ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế vẫn chưa phải là giải pháp được các quốc gia ưu tiên lựa chọn. Điều này có thể lý giải bởi những nguyên nhân cơ bản sau đây:

- Phạm vi các quan hệ dân sự do Tư pháp quốc tế điều chỉnh rất rộng, bao trùm lên nhiều lĩnh vực dân sự khác nhau nên việc tập hợp các quy phạm điều chỉnh các quan hệ này vào một đạo luật thống nhất là vấn đề phức tạp. Một số nước xây dựng Luật Tư pháp quốc tế có phạm vi điều chỉnh rất rộng, gần như điều chỉnh mọi vấn đề phát sinh liên quan đến quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, tập trung vào ba vấn đề cơ bản của Tư pháp quốc tế: chọn luật áp dụng cho quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và vấn đề áp dụng pháp luật nước ngoài; giải quyết xung đột thẩm quyền cũng như xác định thẩm quyền của Tòa án quốc gia giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài; vấn đề công nhận và cho thi hành phán quyết của nước ngoài.

Những nước có Luật Tư pháp quốc tế điển hình cho phạm vi điều chỉnh rộng là Bỉ, Bulgaria, Liên bang Thụy Sĩ,… Ngược lại, có những nước ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế có phạm vi điều chỉnh rất hẹp, chỉ giải quyết vấn đề xung đột pháp luật, các vấn đề khác được quy định trong văn bản pháp luật riêng mà thường là Bộ luật Tố tụng dân sự hoặc Luật Thi hành án dân sự, điển hình là Nhật Bản. Nhiều quốc gia Tây Âu và Bắc Mỹ cũng ban hành Luật Tư pháp quốc tế (dù tên gọi có sự khác nhau) với phạm vi điều chỉnh chỉ bao gồm vấn đề công nhận và cho thi hành phán quyết dân sự của nước ngoài. Ví dụ: Vương quốc liên hiệp Anh và Bắc Ai - len, Australia, Hoa Kỳ…

Có thể thấy, chưa có một khuôn mẫu chung cho đạo luật về Tư pháp quốc tế và với thực trạng như thế nếu số lượng các đạo luật gia tăng sẽ làm phát sinh sự “xung đột” giữa chính các đạo luật với nhau khi cùng giải quyết một vấn đề của Tư pháp quốc tế. Chính vì vậy, nhiều quốc gia đã không lựa chọn giải pháp ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế cho đến thời điểm phù hợp nhất.

- Đối với những quốc gia đã ổn định cấu trúc của hệ thống văn bản pháp luật trong lĩnh vực dân sự, việc xây dựng và ban hành đạo luật về Tư pháp quốc tế sẽ tác động đến toàn bộ các văn bản pháp luật trong hệ thống pháp luật quốc gia bởi lẽ phải sửa đổi hàng loạt các văn bản pháp luật có liên quan. Rõ ràng việc gây ra những thay đổi lớn chỉ để nhằm xây dựng một đạo luật là điều không cần thiết đối với những quốc gia đang hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình và mong muốn có một hệ thống pháp luật ổn định. Nhiều quốc gia trên thế giới trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật đã tính đến phương án ban hành đạo luật về Tư pháp quốc tế nhưng cuối cùng đã chọn giải pháp tiếp tục duy trì tình trạng sử dụng nhiều văn bản pháp luật khác nhau để điều chỉnh các quan hệ này nhằm tránh gây ra những xáo trộn lớn trong hệ thống pháp luật.

Có thể thấy rằng, việc lựa chọn ban hành hay không ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế không thuần túy xuất phát từ xu thế hoặc yêu cầu điều chỉnh các quan hệ pháp luật mà còn phải căn cứ trên hiện trạng của hệ thống pháp luật, đặc biệt là việc tính toán hiệu quả của việc ban hành pháp luật trong giai đoạn hiện tại cũng như giai đoạn sắp tới. Nói cách khác, giải pháp ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế chỉ là một trong những khả năng được cân nhắc lựa chọn mà không phải là giải pháp duy nhất hay giải pháp bắt buộc.

- Phạm vi điều chỉnh của Tư pháp quốc tế mỗi nước là khác nhau. Trên thế giới, có hai loại phạm vi điều chỉnh của Tư pháp quốc tế: phạm vi điều chỉnh rộng và phạm vi điều chỉnh hẹp. Đối với những nước có phạm vi điều chỉnh rộng điển hình là Pháp, Liên bang Nga, Việt Nam,… phạm vi điều chỉnh của Tư pháp quốc tế được xác định rất rộng, bao gồm những vấn đề chung liên quan đến chủ thể của Tư pháp quốc tế, xung đột pháp luật, xung đột thẩm quyền xét xử, vấn đề ủy thác tư pháp và vấn đề công nhận, cho thi hành phán quyết của cơ quan tài phán nước ngoài. Bên cạnh đó, nội dung Tư pháp quốc tế còn bao gồm cả những lĩnh vực quan hệ dân sự cụ thể có yếu tố nước ngoài như quan hệ sở hữu, thừa kế, lao động,…

Đối với những nước có phạm vi điều chỉnh hẹp điển hình là các nước thuộc hệ thống pháp luật Anglo - Sacxong như Anh, Mỹ, một số nước khác như Australia, Singapore,… Tư pháp quốc tế được nghiên cứu dưới góc độ luật xung đột vì vậy có phạm vi điều chỉnh hẹp. Phạm vi điều chỉnh của tư pháp tập trung vào ba vấn đề: xung đột pháp luật và giải quyết xung đột pháp luật, xung đột thẩm quyền xét xử và xác định cơ quan tài phán có thẩm quyền, vấn đề công nhận và cho thi hành phán quyết của cơ quan tài phán nước ngoài. Vấn đề quốc tịch và quy chế pháp lý của người nước ngoài được giải quyết riêng, trong khuôn khổ của luật công.

Chính từ sự khác biệt về mặt lý luận này dẫn đến giải pháp lựa chọn của các nước đối với việc xây dựng các quy phạm pháp luật thực định là khác nhau. Điều này dẫn đến giải pháp ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế riêng không được nhiều quốc gia lựa chọn, đặc biệt là những nước có phạm vi điều chỉnh của Tư pháp quốc tế rộng.

- Việc lựa chọn giải pháp cụ thể cho từng quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài ở các nước là khác nhau. Đây là điều tất yếu trong Tư pháp quốc tế bởi lẽ tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của từng nước mà giải pháp lựa chọn luật áp dụng đối với từng quan hệ cụ thể sẽ khác nhau.

Tóm lại, mặc dù đã trở thành một hiện tượng của một số nước, nhưng ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế rõ ràng chưa thể trở thành xu thế tất yếu của Tư pháp quốc tế trong giai đoạn sắp tới bởi những khó khăn, thử thách đặt ra cho quá trình lập pháp của các quốc gia. Và quan trọng nhất, hiệu quả điều chỉnh của các Quy phạm pháp luật cũng không có gì thay đổi so với hiện tại. Việc ban hành hay không ban hành đạo luật Tư pháp quốc tê là vấn đề được các quốc gia cân nhắc thận trọng chứ không phải là xu thế tất yếu trong giai đoạn hiện nay và sắp tới.

Trân trọng!