1. Đề thi học kì 1 Tiếng Việt 5 năm học 2024 - 2025 có đáp án - Đề số 1
A. Kiểm tra Đọc
I. Đọc thành tiếng
Học sinh đọc đoạn văn thuộc chủ đề đã học và trả lời 01 câu hỏi về nội dung bài.
Giáo viên ghi tên bài, số trang trong SGK TV5 vào phiếu, cho HS bốc thăm và đọc đoạn văn do giáo viên yêu cầu.
II. Kiểm tra đọc hiểu kết hợp kiến thức tiếng việt:
Về ngôi nhà đang xây
Chiều đi học về
Chúng em qua ngôi nhà xây dở
Giàn giáo tựa cái lồng che chở
Trụ bê tông nhú lên như một mầm cây
Bác thợ nề ra về còn huơ huơ cái bay:
Tạm biệt!
Ngôi nhà tựa vào nền trời sẫm biếc
Thở ra mùi vôi vữa nồng hăng
Ngôi nhà giống bài thơ sắp làm xong
Là bức tranh còn nguyên màu vôi, gạch.
Bầy chim đi ăn về
Rót vào ô cửa chưa sơn vài nốt nhạc.
Nắng đứng ngủ quên
Trên những bức tường
Làn gió nào về mang hương
Ủ đầy những rãnh tường chưa trát vữa.
Bao ngôi nhà đã hoàn thành
Đều qua những ngày xây dở.
Ngôi nhà như trẻ nhỏ
Lớn lên với trời xanh…
Đồng Xuân Lan
* Hãy khoanh vào chữ đặt trước ý trả lời đúng nhất trong mỗi câu sau:
Câu 1: Bài “Về ngôi nhà đang xây ” thuộc chủ điểm nào?
A. Con người với thiên nhiên
B. Giữ lấy màu xanh
C. Vì hạnh phúc con người
D. Cánh chim hòa bình
Câu 2: Trong bài, các bạn nhỏ đứng ngắm ngôi nhà đang xây dở vào thời gian nào?
A. Sáng
B. Trưa
C. Tối
D. Chiều
Câu 3: Công việc thường làm của người thợ nề là:
A. Sửa đường
B. Xây nhà
C. Quét vôi
D. Đổ cột
Câu 4: Trong bài thơ, tác giả đã quan sát bằng những giác quan nào?
A. Thị giác, khứu giác, xúc giác
B. Thị giác, vị giác, khứu giá
C. Thị giác, thính giác, khứu giác
D. Thị giác, khứu giác, xúc giác, vị giác
Câu 5: Hình ảnh ngôi nhà đang xây nói lên điều gì về cuộc sống trên đất nước ta?
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
Câu 6: Tìm hai hình ảnh so sánh nói lên vẻ đẹp của ngôi nhà.
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
Câu 7: Từ “hoàn thành” thuộc từ loại nào?
A. Danh từ
B. Tính từ
C. Động từ
D. Quan hệ từ
Câu 8: Chủ ngữ trong câu “Trụ bê tông nhú lên như một mầm cây” là:
A. Trụ
B. Bê tông
C. Trụ bê tông
D. Nhú lên
Câu 9: Khu bảo tồn đa dạng sinh học là gì ?
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
Câu 10: Đặt một câu biểu thị quan hệ nguyên nhân - kết quả.
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………
B. Kiểm tra Viết
I. Chính tả:
Nghe – viết bài: Mùa thảo quả ( từ Sự sống … đến … từ dưới đáy rừng)
II. Tập làm văn:
Đề bài: Em hãy tả một người mà em yêu quý nhất.
Đáp án:
A. Kiểm tra đọc
I. Đọc thành tiếng:
II. Kiểm tra đọc hiểu kết hợp kiến thức tiếng việt:
| CÂU 1 | CÂU 2 | CÂU 3 | CÂU 4 | CÂU 7 | CÂU 8 |
| C | D | B | C | C | C |
Câu 5: Hình ảnh ngôi nhà đang xây nói lên cuộc sống xây dựng trên đất nước ta đang đổi mới hàng ngày.
Câu 6: Tìm hai hình ảnh so sánh nói lên vẻ đẹp của ngôi nhà. (1 hình ảnh 0,5 đ)
- Trụ bê tông nhú lên như một mầm cây
- Ngôi nhà giống bài thơ sắp làm xong
- Ngôi nhà như trẻ nhỏ lớn lên với trời xanh…….
Câu 9: Khu bảo tồn đa dạng sinh học là nơi lưu giữ được nhiều loại động vật, thực vật (1 điểm)
Câu 10: Đặt một câu biểu thị quan hệ nguyên nhân- kết quả (1 điểm)
Vì ………..nên ……..
Do……… nên ……….
Nhờ ……...mà………
B. Kiểm tra viết
I. Chính tả
Nghe – viết bài: Mùa thảo quả ( từ Sự sống … đến … từ dưới đáy rừng)
II. Tập làm văn
Mẫu:
Trong gia đình, mẹ là người mà em yêu quý nhất, luôn dành cho em tình cảm sâu sắc và sự chăm sóc tận tình. Năm nay, mẹ đã bốn mươi tuổi, sở hữu một thân hình mảnh mai, thon thả, tôn lên vẻ đẹp dịu dàng và sang trọng của người phụ nữ hiền từ. Mái tóc đen óng mượt của mẹ dài ngang lưng, thường được thắt gọn gàng, tạo nên vẻ chỉn chu và thanh thoát. Đôi mắt mẹ, đen láy và ấm áp, luôn nhìn em với ánh mắt trìu mến, như ánh nắng dịu dàng soi sáng tâm hồn em.
Khuôn mặt mẹ hình trái xoan với làn da trắng muốt, đôi môi hồng thắm và chiếc mũi cao thanh tú càng làm tăng thêm vẻ đẹp của mẹ. Khi mẹ cười, gương mặt mẹ tỏa sáng như đóa hoa hồng nở rộ trong sớm mai. Đôi bàn tay mẹ, tuy rám nắng và gầy gầy, nhưng lại chứa đựng sức mạnh và sự tảo tần, đã nuôi nấng em từ những ngày đầu tiên chào đời. Mặc dù mẹ làm nghề nông, nhưng mẹ còn khéo tay trong việc may vá, thêu thùa, và những bộ đồ mẹ may luôn mang nét duyên dáng và sang trọng.
Trong gia đình, mẹ đảm nhiệm vai trò nội trợ, không chỉ dạy em những công việc nhỏ như quét nhà hay gấp quần áo mà còn cùng bố chăm lo cho tổ ấm của mình. Mẹ luôn dậy sớm để chuẩn bị bữa sáng cho cả nhà, để các anh em em có thể đến trường đúng giờ. Mỗi khi em ốm, mẹ thức suốt đêm để chăm sóc, lo lắng từng bữa cháo cho em. Mặc dù công việc đồng áng bận rộn, mẹ vẫn dành thời gian giảng bài cho em mỗi tối, thể hiện tình yêu thương và sự kỳ vọng vào tương lai của em.
Mẹ rất hiền từ, chưa bao giờ la mắng em, mà luôn nhẹ nhàng nhắc nhở khi em mắc lỗi. Chính sự âm thầm lặng lẽ của mẹ đã dạy cho em nhiều điều hay lẽ phải, khiến em kính phục và yêu thương mẹ hơn bao giờ hết. Mẹ ơi, trong vòng tay ấm áp của mẹ, con luôn cảm thấy hạnh phúc và ấm lòng. Con yêu mẹ hơn bất cứ điều gì trên đời, vì mẹ chính là cô tiên tuyệt vời nhất trong cuộc sống của con. Tấm lòng của mẹ bao la như biển cả, và con hiểu rằng không ai có thể thương yêu con bằng mẹ. Con mong lớn lên để có thể giúp mẹ đỡ vất vả hơn, và hứa sẽ chăm học, học thật giỏi để đáp đền công ơn sinh thành mà mẹ đã dành cho con.
2. Đề thi học kì 1 Tiếng Việt 5 năm học 2024 - 2025 có đáp án - Đề số 2
A. KIỂM TRA ĐỌC
I. Đọc thầm và làm bài tập
CÁI GIÁ CỦA SỰ TRUNG THỰC
Vào một buổi chiều thứ bảy đầy nắng ở thành phố Ô-kla-hô-ma, tôi cùng một người bạn và hai đứa con của anh đến một câu lạc bộ giải trí. Bạn tôi tiến đến quầy vé và hỏi: “Vé vào cửa là bao nhiêu? Bán cho tôi bốn vé”.
Người bán vé trả lời: “3 đô la một vé cho người lớn và trẻ em trên sáu tuổi. Trẻ em từ sáu tuổi trở xuống được vào cửa miễn phí. Các cậu bé này bao nhiêu tuổi?”
- Đứa lớn bảy tuổi và đứa nhỏ lên bốn. Bạn tôi trả lời. Như vậy tôi phải trả cho ông 9 đô la tất cả.
Người đàn ông ngạc nhiên nhìn bạn tôi và nói: “Lẽ ra ông đã tiết kiệm cho mình được 3 đô la. Ông có thể nói rằng đứa lớn mới chỉ sáu tuổi, tôi làm sao mà biết được sự khác biệt đó chứ!”
Bạn tôi từ tốn đáp lại: “Dĩ nhiên, tôi có thể nói như vậy và ông cũng sẽ không thể biết được. Nhưng bọn trẻ thì biết đấy. Tôi không muốn bán đi sự kính trọng của mình chỉ với 3 đô la”.
Theo Pa-tri-xa Phơ-ríp
Đọc thầm bài tập đọc, trả lời các câu hỏi và bài tập bằng cách khoanh vào chữ cái trước các ý trả lời đúng nhất hoặc hoàn thiện câu trả lời theo hướng dẫn dưới đây:
Câu 1. Câu lạc bộ giải trí miễn phí cho trẻ em ở độ tuổi nào?
A. Bảy tuổi trở xuống.
B. Sáu tuổi trở xuống.
C. Bốn tuổi trở xuống.
Câu 2. Người bạn của tác giả đã trả tiền vé cho những ai?
A. Cho mình, cho bạn và cho cậu bé bảy tuổi.
B. Cho mình, cho cậu bé bảy tuổi và cậu bé bốn tuổi.
C. Cho mình, cho bạn và cho cậu bé bốn tuổi.
Câu 3. Người bạn của tác giả lẽ ra tiết kiệm được 3 đô la bằng cách nào?
A. Nói dối rằng cả hai đứa còn rất nhỏ.
B. Nói dối rằng cậu bé lớn mới chỉ có sáu tuổi.
C. Nói dối rằng cậu bé lớn mới chỉ có năm tuổi.
Câu 4. Tại sao người bạn của tác giả lại không “tiết kiệm 3 đô la” theo cách đó?
A. Vì ông ta rất giàu, 3 đô la không đáng để ông ta phải nói dối.
B. Vì ông ta sợ bị phát hiện ra thì xấu hổ.
C. Vì ông ta là người trung thực và muốn được sự kính trọng của con mình.
Câu 5. Câu chuyện muốn nói với em điều gì?
A. Cần phải sống trung thực, ngay từ những điều nhỏ nhất.
B. Cần phải sống sao cho con mình kính trọng.
C. Không nên bán đi sự kính trọng.
Câu 6: Từ trái nghĩa với “trung thực” là:
A. Thẳng thắn
B. Gian dối
C. Trung hiếu
D. Thực lòng
Câu 7. Dòng nào dưới đây toàn các từ láy?
A. đường đua, tiếp sức, khập khiễng, bền bỉ, cuối cùng, lo lắng.
B. khập khiễng, rạng rỡ, âu yếm, đám đông, khó khăn, đau đớn.
C. khập khiễng, rạng rỡ, bền bỉ, lo lắng, khó khăn , đau đớn.
Câu 8. Trong câu “Dĩ nhiên, tôi có thể nói như vậy và ông cũng sẽ không thể biết được.” có đại từ xưng hô là:
A. Tôi
B. Ông
C. Tôi và ông
Câu 9. Trong các nhóm từ dưới đây, nhóm gồm những từ nhiều nghĩa là:
A. Đánh cờ, đánh giặc, đánh trống
B. Trong veo, trong vắt, trong xanh
C. Thi đậu, xôi đậu, chim đậu trên cành
II. Đọc thành tiếng
Học sinh đọc đoạn văn thuộc chủ đề đã học và trả lời 01 câu hỏi về nội dung bài.
Nội dung bài đọc và câu hỏi do giáo viên lựa chọn trong các bài Tập đọc từ tuần 11 đến tuần 18, SGK Tiếng Việt 5, tập I. Giáo viên thực hiện đánh giá theo yêu cầu kiến thức, kĩ năng của chương trình.
B. KIỂM TRA VIẾT
I. Chính tả
Nghe – viết
Bài viết : "Vịnh Hạ Long" (Tiếng Việt 5 - tập 1- trang 70)
Đoạn: "Thiên nhiên Hạ Long ...... phơi phới"
II. Tập làm văn
Đề bài: Tả một con vật nuôi mà em quý nhất.
Đáp án:
A. KIỂM TRA ĐỌC
I. Đọc thầm và làm bài tập
| Câu 1 | Câu 2 | Câu 3 | Câu 4 | Câu 5 | Câu 6 | Câu 7 | Câu 8 | Câu 9 |
| B | A | B | C | A | B | C | C | A |
II. Đọc thành tiếng
Đọc đúng tiếng, đúng từ, ngắt nghỉ hơi đúng chỗ, diễn cảm được đoạn văn, đọc tốc độ đạt yêu cầu.
B. KIỂM TRA VIẾT
I. Chính tả
Đánh giá cho điểm chính tả:
- Bài viết không mắc lỗi chính tả, chữ viết rõ ràng trình bày đúng đoạn văn xuôi
- Mỗi lỗi chính tả trong bài viết (sai - lẫn phụ âm đầu hoặc vần thanh; không viết hoa đúng quy định), trừ 0,25 điểm.
II. Tập làm văn
Đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Viết được bài văn tả con vật đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài đúng các yêu cầu của đề bài độ dài bài viết khoảng 12 câu.
+ Viết câu đúng ngữ pháp, dùng từ đúng thể loại văn miêu tả.
+ Chữ viết rõ ràng, không mắc lỗi chính tả. Trình bày bài viết sạch sẽ. Không liệt kê như văn kể chuyện.
Mẫu:
“Meo…Meo…” Đó là tiếng kêu nũng nịu của cô mèo Mi Mi nhà em mỗi khi em trở về từ trường. Mi Mi là món quà quý giá nhất mà mẹ tặng cho em vào sinh nhật, và từ đó, cô đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của em.
Mi Mi sở hữu thân hình mềm mại với bộ lông ba màu: trắng tinh khiết, vàng óng ả và những đốm lấm tấm. Bộ lông ấy giống như chiếc áo ấm bảo vệ cô trong những ngày đông lạnh giá. Đầu của Mi Mi tròn trịa, giống như quả cam, với hai tai vểnh lên, luôn nhạy cảm lắng nghe mọi âm thanh xung quanh. Đôi mắt to, tròn và trong suốt như thủy tinh, phản chiếu những tâm tư của cô. Chiếc mũi nhỏ nhắn phớt hồng thường xuyên ươn ướt, cùng với những chiếc râu trắng mảnh mai bên mép, khiến Mi Mi trông thật dễ thương.
Miệng Mi Mi nhỏ nhắn nhưng mỗi khi cô ngáp, những chiếc răng sắc nhọn lại hiện ra, tạo nên một vẻ đáng sợ, nhưng đó cũng là vũ khí lợi hại của cô để săn mồi. Đặc biệt, những móng vuốt sắc nhọn của Mi Mi giúp cô dễ dàng bắt chuột. Cái đuôi trắng mịn màng của cô luôn ngoe nguẩy lên xuống, làm tăng thêm nét duyên dáng và uyển chuyển cho từng bước đi. Khi cô bước đi, Mi Mi giống như một “tiểu thư đài các”, khiến những chú mèo khác không thể rời mắt khỏi “nàng công chúa” này.
Khi mới về, Mi Mi thường nép mình vào góc ghế, với ánh mắt tròn xoe sợ sệt, nhìn mọi người như một sinh vật xa lạ. Nhưng dần dần, cô đã quen với tất cả mọi người, và đặc biệt là em. Mỗi bữa ăn, em là người dọn thức ăn cho Mi Mi. Chỉ khi em mời, cô mới rón rén bước tới, ăn từ từ từng miếng. Còn khi bắt chuột, Mi Mi trở nên dữ dằn, khiến bất kỳ con chuột nào gặp cô đều không tránh khỏi số phận xấu số.
Mi Mi cũng rất thích chơi bóng. Mỗi khi em thảy bóng cho cô, cô chạy theo và vờn khéo léo, đôi lúc lại trốn dưới gầm bàn, nhảy nhót như một diễn viên xiếc tài ba. Mỗi chiều, cô nằm sưởi nắng bên cửa sổ, và khi thấy em về, Mi Mi liền chạy ra, đôi mắt lấp lánh, miệng kêu “meo…meo…” thật đáng yêu. Cô thường dụi đầu vào chân em, như một cách để đòi hỏi được vuốt ve bộ lông mềm mại.
Mi Mi không chỉ là một con mèo, mà còn là người bạn thân thiết của em. Mỗi khi em buồn, em lại tâm sự với cô, và tiếng kêu “meo…meo…” của Mi Mi như một lời an ủi, khiến em cảm thấy ấm lòng hơn. Trong gia đình, mọi người đều yêu quý Mi Mi, và cô đã trở thành một thành viên không thể thiếu, mang đến cho em những khoảnh khắc vui vẻ và ấm áp. Mi Mi, món quà ý nghĩa nhất trong cuộc sống của em, sẽ luôn được em trân trọng và yêu thương.
3. Đề thi học kì 1 Tiếng Việt 5 năm học 2024 - 2025 có đáp án - Đề số 3
A. Kiểm tra Đọc
I. Đọc thành tiếng
Giáo viên cho học sinh bốc thăm đọc một đoạn và trả lời câu hỏi trong bài do giáo viên nêu 1 trong các bài sau:
1. Những con sếu bằng giấy
2.Cái gì quý nhất
3. Người gác rừng tí hon
4. Thầy thuốc như mẹ hiền
II. Đọc thầm và hoàn thành bài tập:
CHIM VÀNH KHUYÊN VÀ CÂY BẰNG LĂNG
Đàn chim vành khuyên bay trong mưa bụi. Rồi đàn chim vụt đậu xuống hàng cây bằng lăng non. Những con chim mỏi cánh xuống nghỉ chân à? Tiếng chim lích chích trên cành. Không, không, chúng em đi làm, năm sớm chúng em đi làm đây, không phải nghỉ chân đâu.
À, thế ra những con vành khuyên kia đến cây bằng lăng cũng có công việc. Con chim vành khuyên, chân đậu nhẹ chẳng rụng một giọt nước mưa đã bám thành hàng dưới cành. Vành khuyên nghiêng mắt, ngước mỏ, cắm cúi, hí hoáy. Cái mỏ như xát mặt vỏ cây. Đôi mắt khuyên vòng trắng long lanh. Đôi chân thoăn thoắt. Vành khuyên lách mỏ vào tìm bắt sâu trong từng khe vỏ rách lướp tướp.
Những con chim ríu rít chuyền lên chuyền xuống. Mỗi lần móc được con sâu lại há mỏ lên rồi nhún chân hót. Như báo tin bắt được rồi... bắt được rồi... Như hỏi cây: Đỡ đau chưa? Khỏi đau chưa? Có gì đâu, chúng em giúp cho cây khỏi ghẻ rồi chóng lớn, chóng có bóng lá, che cho chúng em bay xa có chỗ nghỉ chân, tránh nắng. Ta giúp đỡ nhau đấy thôi. Hạt nước trên cành bằng lăng rơi lã chã. Cây bằng lăng khóc vì cảm động.
Đàn vành khuyên đương tìm sâu ở cành, ở lộc cây, ở những chiếc lá còn lại. Rõ ràng nghe được tiếng chim. Vành khuyên trò chuyện, vành khuyên reo mừng, vành khuyên thủ thỉ. Vành khuyên hát cho cây bằng lăng nghe.
Lúc sau, đàn vành khuyên bay lên. Như bác sĩ khám bệnh, cho thuốc tiêm, thuốc uống rồi. Chỉ trông thấy làn mưa bụi phơi phới. Nhưng vẫn nghe tiếng vành khuyên ríu rít:
- Chúng em đi nhé! Chúng em đi nhé! Các bạn bằng lăng chóng tươi lên, xanh tươi lên!...
(Theo TÔ HOÀI)
Khoanh tròn vào chữ cái đặt trước câu trả lời đúng:
Câu 1: Bài văn tả cảnh đàn chim vành khuyên đi làm vào mùa nào?
A. Mùa xuân
B. Mùa hạ
C. Mùa thu
D. Mùa đông
Câu 2: Dòng nào dưới đây gồm 5 từ ngữ tả vành khuyên chăm chú tìm bắt sâu?
A. đậu nhẹ, nghiêng mắt, ngước mỏ, cắm cúi, há mỏ.
B. nghiêng mắt, ngước mỏ, cắm cúi, hí hoáy, há mỏ.
C. đậu nhẹ, nghiêng mắt, cắm cúi, hí hoáy, há mỏ.
D. nghiêng mắt, ngước mỏ, cắm cúi, hí hoáy, lách mỏ.
Câu 3: Chi tiết cây bằng lăng “khóc” giúp em hiểu được điều gì?
A. Bằng lăng đau đớn vì bị những con sâu đục khoét trên thân cây.
B. Bằng lăng cảm động vì được đàn chim chia sẻ nỗi đau của cây.
C. Bằng lăng xúc động trước sự quan tâm, giúp đỡ của đàn chim.
D. Bằng lăng đau vì sâu đục khoét và cảm động vì chim giúp đỡ.
Câu 4: Dòng nào dưới đây nêu đúng và đủ ý nghĩa sâu sắc của bài văn?
A. Giúp người khác là đem lại niềm vui và hạnh phúc cho họ.
B. Giúp người khác là đem lại niềm vui cho họ và cho mình.
C. Giúp người khác là đem lại niềm vui cho bản thân mình.
D. Giúp người khác là đem lại niềm vui cho toàn xã hội.
Câu 5: Từ nào dưới đây đồng nghĩa với từ “cảm động”?
A. cảm tình
B. cảm xúc
C. rung động
D. xúc động
Câu 6: Dòng nào dưới đây có từ in nghiêng là từ đồng âm?
A. cây bằng lăng/ cây thước kẻ
B. mặt vỏ cây/ mặt trái xoan
C. tìm bắt sâu/ moi rất sâu
D. chim vỗ cánh/ hoa năm cánh
Câu 7: Viết lại câu văn “Tiếng chim lích chích trên cành” có sử dụng phép so sánh hoặc nhân hóa.
Câu 8: Thay thế từ dùng sai (in nghiêng) bằng từ đồng nghĩa thích hợp rồi viết lại hai câu văn sau: “Quê em có dòng sông lượn lờ chảy qua. Những ngày hè oi ả, em thỏa sức bơi lội tung tăng trong dòng nước mát ngọt.”
Câu 9: Viết một câu nhận xét về việc tốt của chim vành khuyên trong bài văn trên.
Câu 10: Từ việc tốt của chim vành khuyên, em thấy mình có thể làm được những gì để bảo vệ môi trường quanh ta?
B. Kiểm tra Viết
I. Chính tả:
Giáo viên đọc cho học sinh (nghe viết) bài: “Buôn Chư Lênh đón cô giáo”. Tiếng Việt 5 – Tập 1, trang 144 (Từ Y Hoa lấy trong gùi ra ….đến hết) trong khoảng thời gian 15 phút.
II. Tập làm văn:
Đề bài: Em hãy tả một em bé ở tuổi tập nói, tập đi.
Đáp án:
A. Kiểm tra Đọc
I. Đọc thành tiếng
Giáo viên đánh giá, cho điểm dựa vào những yêu cầu sau:
- Đọc đúng tiếng, đúng từ
- Ngắt nghỉ hơi đúng ở các dấu câu, các cụm từ rõ nghĩa
- Giọng đọc bước đầu có biểu cảm
- Tốc độ đọc đạt yêu cầu
- Trả lời đúng ý câu hỏi do giáo viên nêu
II. Đọc thầm và hoàn thành bài tập:
| Câu | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 |
| Đáp án | A | D | C | B | D | C |
Câu 7: VD: Tiếng chim trò chuyện ríu rít trên cành.
Câu 8: VD: Thay từ lượn lờ bằng từ lững lờ; thay từ mát ngọt bằng từ mát dịu (hoặc mát êm, mát lành,…)
Câu 9: VD: Việc tốt của chim vành khuyên đã giúp cây bằng lăng vơi đi nỗi đau làm cho cuộc sống trở nên tươi đẹp, giàu ý nghĩa.
Câu 10: Những việc làm tốt để bảo vệ môi trường: chăm sóc vườn hoa, cây xanh; quét dọn nhà cửa, làm vệ sinh trường, lớp,… để môi trường xanh - sạch - đẹp.
B. Kiểm tra Viết
I. Chính tả:
Đánh giá cho điểm chính tả:
- Bài viết không mắc lỗi chính tả, chữ viết rõ ràng trình bày đúng đoạn văn xuôi
- Mỗi lỗi chính tả trong bài viết (sai - lẫn phụ âm đầu hoặc vần thanh; không viết hoa đúng quy định), trừ 0,25 điểm.
II. Tập làm văn:
Mẫu:
Em gái của em, tên là Nhím, năm nay vừa tròn hai tuổi. Em như một bông hoa nhỏ trong vườn, với sự hồn nhiên, trong sáng và đầy ắp niềm vui. Những ngày tháng này, em đang ở độ tuổi tập nói, tập đi, và mọi khoảnh khắc của em đều khiến lòng người thêm ấm áp.
Nhím có làn da trắng hồng, mềm mại như nhung, đôi má bầu bĩnh lúc nào cũng ửng hồng, trông thật đáng yêu. Hai chiếc răng sữa nhỏ nhắn của em thường xuyên hiện ra khi em cười, để lộ một nụ cười tươi rói khiến ai cũng phải yêu mến. Đôi mắt em to tròn, đen láy như những viên ngọc, luôn ngập tràn sự tò mò. Khi nhìn vào đôi mắt ấy, em như một mảnh ghép của thế giới ngập tràn màu sắc và âm thanh.
Nhím rất thích đi lại và khám phá mọi thứ xung quanh. Những bước đi đầu tiên của em thật chao đảo nhưng lại đầy quyết tâm. Em thường chập chững đi từ ghế sofa đến chiếc bàn, đôi chân nhỏ bé ấy như những chiếc bánh xe lăn xung quanh. Mỗi lần em bước đi được vài bước, đôi mắt em lại sáng lên, và tiếng cười trong trẻo vang lên như những tiếng chuông, khiến cả nhà không khỏi phấn khích.
Giọng nói của Nhím thì thật dễ thương. Những từ ngữ đầu tiên mà em học được thường là "mẹ", "ba" hay "cho con". Dù chưa phát âm chuẩn, nhưng những âm thanh lắp bắp ấy lại mang theo biết bao tình cảm. Có lần, em chỉ tay vào chiếc xe đồ chơi và hô lên: "Xe! Xe!", ánh mắt háo hức khiến mọi người không thể nhịn cười. Sự hồn nhiên trong cách nói của em thể hiện rõ mong muốn và niềm vui nhỏ bé trong từng khoảnh khắc.
Buổi chiều, khi ánh nắng vàng rực rỡ chiếu vào nhà, Nhím thường ngồi chơi với những món đồ chơi sắc màu. Đôi tay nhỏ bé của em nắm chặt những khối hình, đôi lúc lại đứng dậy, chập chững chạy tới bên mẹ với dáng vẻ ngộ nghĩnh. Mỗi bước đi của em như một cuộc phiêu lưu, trong khi tiếng cười giòn giã hòa quyện với không khí ấm áp của gia đình.
Nhím không chỉ là em gái của em mà còn là nguồn cảm hứng và niềm vui lớn lao trong cuộc sống. Những tiếng gọi, những bước chân của em như khắc ghi những khoảnh khắc tuyệt đẹp của tuổi thơ. Thế giới xung quanh sẽ mãi tràn đầy ánh sáng và màu sắc nhờ có Nhím, với trái tim trong sáng và khát khao khám phá không ngừng. Em hy vọng, từng bước đi, từng tiếng nói của Nhím sẽ là những ký ức đẹp đẽ, mãi mãi ở lại trong tim mọi người.
Bài viết liên quan: Đề thi học kì 2 Tiếng Việt lớp 5 có đáp án chi tiết nhất