1. Hoạt động cơ bản
Câu 1. Quan sát bức tranh và trả lời câu hỏi:
a. Bức tranh vẽ cảnh gì? Mỗi em nói một câu về vẻ đẹp của cảnh trong tranh.
b. Em hiểu cửa sông nghĩa là gì?

Đáp án:
a. Bức tranh vẽ cảnh thiên nhiên sông nước và hoạt động của con người ở một khu vực cửa sông. Một số câu nói lên vẻ đẹp của bức tranh:
Dòng sông êm đềm và thơ mộng.
Từng chiếc thuyền neo đậu bên bờ sông thật nhộn nhịp.
Phía xa là biển rộng nhấp nhô từng cánh buồm no gió.
b. Theo em, cửa sông chính là nơi dòng sông chảy ra và đổ vào biển hoặc hồ lớn.
Câu 2. Nghe thầy cô (hoặc bạn) đọc bài:
Cửa sông
(Trích)
Là cửa nhưng không then khóa
Cũng không khép lại bao giờ
Mênh mông một vùng sóng nước
Mở ra bao nỗi đợi chờ.
Nơi những dòng sông cần mẫn
Gửi lại phù sa bãi bồi
Để nước ngọt ùa ra biển
Sau cuộc hành trình xa xôi.
Nơi biển tìm về với đất
Bằng con sóng nhớ bạc đầu
Chất muối hòa trong vị ngọt
Thành vũng nước lợ nông sâu.
Nơi cá đối vào đẻ trứng
Nơi tôm rảo đến búng càng
Cần câu uốn cong lưỡi sóng
Thuyền ai lấp lóa đêm trăng.
Nơi con tàu chào mặt đất
Còi ngân lên khúc giã từ
Cửa sông tiễn người ra biển
Mây trắng lành như phong thư.
Dù giáp mặt cùng biển rộng
Cửa sông chẳng dứt cội nguồn
Lá xanh mỗi lần trôi xuống
Bỗng… nhớ một vùng núi non
Quang Huy
Câu 3. Chọn lời giải nghĩa ở cột B cho phù hợp với mỗi từ ngữ ở cột A

Đáp án:
a)-4
b)-6
c)-1
d)-2
e)-3
g)-5
Câu 5. Thảo luận, trả lời câu hỏi:
a. Trong khổ thơ đầu, tác giả dùng những từ ngữ nào để nói về nơi sông chảy ra biển? Cách giới thiệu ấy có gì hay?
b. Theo bài thơ, cửa sông là địa điểm đặc biệt như thế nào? Dựa vào nội dung bài thơ, hãy nói tiếp để hoàn thành câu
Cửa sông là nơi những dòng sông cần mẫn ...
nơi nước ngọt ... nơi biến ...
nơi nước ngọt của những con sông và nước mặn của biển cả ... nơi cá tôm ...
nơi những chiếc thuyền câu ...
nơi những con tàu ...
nơi tiễn ...
c. Phép nhân hóa ở khổ thơ cuối giúp tác giả nói lên điều gì về "tấm lòng" của cửa sông đối với cội nguồn?
Đáp án:
a. Tác giả dùng những từ ngữ để nói về nơi sông chảy ra biển là:
Là cửa nhưng không then khoá
Cũng không khép lại bao giờ
Mênh mông một vùng sóng nước
Mở ra bao nỗi đợi chờ.
→ Cách nói đó rất đặc biệt: cửa sông giống như một cánh cửa của dòng sông mở ra để đi vào lòng biển lớn. Cửa sông cũng là một cái cửa nhưng khác cửa bình thường, giúp người đọc hiểu thế nào là cửa sông, cảm thấy cửa sông rất thân quen.
b. Theo bài thơ, cửa sông là địa điểm đặc biệt:
Cửa sông là nơi những dòng sông cần mẫn gửi lại phù sa để bồi đắp bãi bờ.
nơi nước ngọt chảy vào biển rộng, nơi biển cả tìm về với đất liền.
nơi nước ngọt của những con sông và nước mặn của biển cả tạo thành vùng nước lợ nơi cá tôm hội tụ
nơi những chiếc thuyền câu lấp lóa đêm trăng.
nơi những con tàu chào mặt đất.
nơi tiễn người ra biển.
c.
- Biện pháp nhân hóa được thể hiện qua những từ ngữ trong khổ thơ cuối:
Dù giáp mặt cùng biển rộng
Cửa sông chẳng dứt cội nguồn
Bỗng … nhớ một vùng núi non.
- Phép nhân hoá giúp tác giả nói được “tấm lòng” của cửa sông là không quên nguồn cội.
2. Hoạt động thực thành
Trang 81 Ngữ Văn 5 VNEN tập 2) 1. Chọn và viết bài văn miêu tả theo một trong những đề bài dưới đây:
Đề 1: Tả quyển sách Hướng dẫn học Tiếng Việt 5, tập 2
Đề 2: Tả cái đồng hồ báo thức
Đề 3: Tả một đồ vật trong nhà mà em yêu thích
Đề 4: Tả một đồ vật hoặc món quà có ý nghĩa sâu sắc với em
Trả lời
Đề 3 (Tả tấm bản đồ Việt Nam)
Trong phòng khách của em, những vận dụng được trưng bày tạo nên một không gian ấm cúng, nhưng nổi bật nhất vẫn là tấm bản đồ Việt Nam treo trên tường. Mỗi khi học bài xong, em thường chìm đắm trong vẻ đẹp của bản đồ ấy.
Tấm bản đồ lớn gần bằng mặt bàn của giáo viên, với nhiều màu sắc sống động thể hiện địa hình đa dạng của đất nước. Màu xanh lam, từ nhạt đến đậm, tượng trưng cho biển cả bao la, còn màu xanh lá mạ biểu thị những vùng đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ và ven biển miền Trung. Màu gạch nung hiện lên như những dãy đồi núi cao nguyên, với sắc độ càng đậm càng cho thấy độ cao của địa hình. Nhờ sự phân chia màu sắc tinh tế, em có thể hình dung rõ nét đặc điểm địa lý của mỗi miền.
Xa ngoài khơi, từ cực Nam của Nam Bộ, quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa nổi bật giữa màu xanh biếc của đại dương như những viên ngọc quý. Tại đây, những người lính hải quân ngày đêm canh gác, gìn giữ từng tấc đất mà tổ tiên đã để lại. Từ Trà Cổ, men theo bờ biển cong mềm mại hình chữ “S”, đến cực Nam Tổ quốc là mũi Cà Mau, mỗi vùng miền hiện lên với một màu sắc riêng biệt: Hà Nội rạng rỡ với sắc hồng phấn, Thành phố Hồ Chí Minh ấm áp với màu gạch nung, và những tỉnh miền Bắc, miền Nam rực rỡ màu xanh lá.
Trên tấm bản đồ, dòng chảy của các con sông hiện lên như những dải lụa mềm mại, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn hùng vĩ. Nhìn ngắm bản đồ, em cảm nhận được tình yêu quê hương đất nước sâu sắc hơn bao giờ hết. Từ những đỉnh núi cao chót vót của Trường Sơn, những dòng sông hiền hòa, đến vùng cao nguyên đất đỏ bạt ngàn cà phê và bãi cát trắng của miền Trung, tất cả như vẽ nên hình hài của một đất nước, một con rồng đang vươn mình bay lên giữa trời xanh.
(Trang 82 Ngữ Văn 5 VNEN tập 2) 4. Dựa vào tranh vẽ dưới đây, em hãy kể lại từng đoạn câu chuyện

Trả lời
Tranh 1: Tranh vẽ cảnh Trần Liễu – thân phụ của Trần Quốc Tuấn. Trước khi mất, ông trăn trối lại những lời cuối cùng cho Trần Quốc Tuấn
Tranh 2: Năm 1284, giặc Nguyên lại sang xâm lược nước ta.
Tranh 3: Trần Quốc Tuấn mời Trần Quang Khải xuống thuyền của mình ở bến Đông để cùng bàn kế đánh giặc.
Tranh 4: Trần Quốc Tuấn tự tay dội nước lá thơm tắm cho Trần Quang Khải, khéo léo cởi bỏ mâu thuẫn gia tộc.
Tranh 5: Cảnh vua Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải họp với các bô lão trong điện Diên Hồng.
Tranh 6: Cảnh giặc Nguyên bị thua tan tác chạy về nước.
Kể lại toàn bộ câu chuyện
Năm 1235, khi Trần Quốc Tuấn mới 5, 6 tuổi, cha ông là Trần Liễu có chuyện tị hiềm với vua Trần Thái Tông. Năm 1251, Trần Liễu lâm bệnh nặng, trước khi mất có trăng trối: "Con hãy vì cha mà lấy thiên hạ. Nếu không, nơi chín suối, cha không thể nhắm mắt được". Biết cha mình không quên được mối hiềm khích với vua Trần Nhân Tông, nên Trần Quốc Tuấn đành gật đầu để yên lòng cha. Nhưng Trần Quốc Tuấn vẫn nghĩ rằng đó là điều phi lý nên tìm mọi cách giảng hòa mối hiềm khích của gia tộc, để đi đến thống nhất mà lo chống giặc ngoại xâm, củng cố, xây dựng đất nước vững bền.
Cuối năm 1284, nhà Nguyên lại kéo hàng chục vạn quân sang xâm chiếm nước ta. Thế giặc mạnh như chẻ tre. Vua Trần Nhân Tông (cháu Trần Thái Tông) cho mời Trần Hưng Đạo về kinh. Vừa từ Vạn Kiếp về tới Thăng Long đậu thuyền ở bến Đông, ông sai mời Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải (con vua Trần Thái Tông) đến cùng bàn kế đánh giặc. Biết Quang Khải ngại tắm, ông sai nấu sẵn nước thơm và xin được tắm giùm. Ông tự tay cởi áo cho Quang Khải, dội nước thơm cho Quang Khải và thân mật đùa:
- Hôm nay, thật may mắn, tôi được tắm hầu Thái sư.
Quang Khải cũng không kìm nổi xúc động, đùa lại:
- Tôi mới thật có may mắn vì được Quốc công Tiết chế tắm cho.
Trước tấm lòng chân tình của cả hai người, mối hiềm khích của cả hai bên dược cởi bỏ.
Hôm sau, hai người vào cung. Vua đã chờ sẵn để bàn việc nước.
Nhà vua băn khoăn:
- Lần trước, giặc Nguyên đá bị ta đánh bại. Nhưng lần này chúng đông và mạnh hơn trước bội phần. Các khanh xem có kế gì để giữ yên xã tắc?
Trần Hưng Đạo trình bày kỹ mọi việc, từ trấn giữ biên thuỳ, cắt cử các tướng..., đoạn ông nhấn mạnh:
Nên triệu gấp bô lão cả nước về kinh để cùng bàn luận. Có sức mạnh nào mạnh bằng sức mạnh trăm họ! Anh em hoà thuận, trên dưới một lòng thì giặc kia dẫu mạnh mấy cũng phải tan!
Vua y lời.
Một sáng đầu xuân năm 1285, bô lão từ mọi miền đất nước tụ hội về điện Diên Hồng. Vua quan nhà trần tề tựu đông đủ. Vua ướm hỏi:
- Nhà Nguyên sai sứ giả mang thư sang, xin mượn đường để đánh Chăm-pa. Ý các khanh thế nào?
Hưng Đạo tâu:
- Cho giặc mượn đường là mất nước!
Cả điện đồng thanh:
- Không cho giặc mượn đường!
Vua hỏi tiếp:
- Ta nên hòa hay nên đánh?
Điện Diên Hồng như rung lên bởi những tiếng hô của muôn người:
- Nên đánh!
- Sát Thát!
Nhờ trên dưới đồng lòng, vua tôi hoà thuận... quân dân ta đã đánh tan giặc Nguyên, giữ vững độc lập dân tộc.
(Theo Đại Việt sử ký toàn thư)
(Trang 82 Ngữ Văn 5 VNEN tập 2) 5. Trao đổi về ý nghĩa câu chuyện
Trả lời
Câu chuyện "Vì muôn dân" không chỉ đơn thuần là một tác phẩm văn học, mà còn là một bức tranh sống động phản ánh truyền thống đoàn kết vững mạnh của dân tộc Việt Nam. Qua từng trang viết, tác phẩm khắc họa rõ nét tinh thần kiên cường, ý chí quyết tâm của người dân trong việc bảo vệ độc lập và chủ quyền của Tổ quốc. Những hình ảnh, biểu tượng và nhân vật trong câu chuyện tượng trưng cho lòng yêu nước, sự hy sinh và lòng đoàn kết của mọi tầng lớp trong xã hội, từ những người lính nơi chiến trường đến những người dân bình thường. Nhờ đó, "Vì muôn dân" đã trở thành một nguồn cảm hứng mạnh mẽ, khẳng định niềm tin và lòng tự hào về một dân tộc luôn sẵn sàng đứng lên chống lại mọi thử thách để gìn giữ nền độc lập và tự do cho tổ quốc.