Thưa luật sư cho em hỏi em có đi làm thuê cho một tiệm tóc, giờ họ tính không trả tiền em. Em đòi thì không trả bây giờ còn tính đe dọa đánh. Bây giờ em phải làm sao?. Em xin cảm ơn.

Luật sư tư vấn:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

1. Nguyên tắc trả tiền lương cho người lao động

Căn cứ khoản 1 Điều 90 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định về tiền lương như sau: "Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác".

Theo đó, tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Người sử dụng lao động phải đảm bảo rằng trả lương một cách bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau.

Theo quy định tại Điều 95 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định về trả lương như sau:

- Người sử dụng lao động trả lương cho người lao động căn cứ vào tiền lương đã thỏa thuận, năng suất lao động và chất lượng thực hiện công việc.

- Tiền lương ghi trong hợp đồng lao động và tiền lương trả cho người lao động bằng tiền Đồng Việt Nam, trường hợp người lao động là người nước ngoài tại Việt Nam thì có thể bằng ngoại tệ.

- Mỗi lần trả lương, người sử dụng lao động phải thông báo bảng kê trả lương cho người lao động, trong đó ghi rõ tiền lương, tiền lương làm thêm giờ, tiền lương làm việc vào ban đêm, nội dung và số tiền bị khấu trừ (nếu có).

Theo đó, người sử dụng lao động trả lương cho người lao động căn cứ vào tiền lương đã thỏa thuận, năng suất lao động và chất lượng thực hiện công việc. Khi trả lương cho người lao động thì người sử dụng lao động phải thông báo bảng kê trả lương ghi rõ tiền lương, tiền lương làm thêm giờ, tiền lương làm việc vào ban đêm, nội dung và số tiền bị khấu trừ (nếu có).

Việc người sử dụng lao động trả lương cho người lao động cần tuân thủ những nguyên tắc trả lương được quy định tại Điều 94 Bộ luật Lao động năm 2019 như sau:

1. Người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động. Trường hợp người lao động không thể nhận lương trực tiếp thì người sử dụng lao động có thể trả lương cho người được người lao động ủy quyền hợp pháp.

2. Người sử dụng lao động không được hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động; không được ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định.

Và kỳ hạn trả lương theo quy định tại Điều 97 Bộ luật Lao động năm 2019:

1. Người lao động hưởng lương theo giờ, ngày, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc được trả gộp do hai bên thỏa thuận nhưng không quá 15 ngày phải được trả gộp một lần.

2. Người lao động hưởng lương theo tháng được trả một tháng một lần hoặc nửa tháng một lần. Thời điểm trả lương do hai bên thỏa thuận và phải được ấn định vào một thời điểm có tính chu kỳ.

3. Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thỏa thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.

4. Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày; nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương.

Như vậy, người sử dụng lao động phải trả lương cho người lao động đúng với thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng. Nếu có sự kiện bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày và nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người lao động cần phải đền bù một khoản tiền cho người lao động theo quy định của pháp luật về lao động.

Căn cứ khoản 2 và điểm a khoản 5 Điều 17 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng về vi phạm quy định về tiền lương, người sử dụng lao động không thực hiện đúng quy định của pháp luật thì bị phạt với mức tiền như sau:

- Vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động thì bị phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng

- Vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động thì bị phạt từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng

- Vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động thì bị phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng

- Vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động thì bị phạt từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng

- Vi phạm từ 301 người lao động trở lên thì bị phạt từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng

Để khắc phục hành vi vi phạm liên quan đến tiền lương thì buộc người sử dụng lao động trả đủ tiền lương cộng với khoản tiền lãi của số tiền lương chậm trả, trả thiếu cho người lao động tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 17 Nghị định 12/2022/NĐ-CP.

Còn trường hợp tổ chức không trả lương đúng thời hạn cho người lao động là hành vi vi phạm pháp luật và tùy vào mức độ sẽ bị phạt tiền tương ứng gấp đôi so với các khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị định 12/2022/NĐ-CP (theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP).

 

2. Phương án giải quyết khi phát sinh tranh chấp lao động

Theo quy định tại Điều 187 Bộ luật Lao động năm 2019, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bao gồm:

(1) Hòa giải viên lao động;

(2) Hội đồng trọng tài lao động;

(3) Tòa án nhân dân.

Thứ nhất, hòa giải viên lao động

Cá nhân phải thực hiện thương lượng, hòa giải tại Hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải sau đây:

- Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

-  Bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động

- Tranh chấp giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động

- Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.

- Vấn đề bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

- Tranh chấp giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hòa giải viên lao động nhận được yêu cầu từ bên yêu cầu giải quyết tranh chấp hoặc từ cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.

Thứ hai, Hội đồng trọng tài lao động

Hội đồng trọng tài lao động sẽ giải quyết tranh chấp lao động trong trường hợp tranh chấp đó không bắt buộc thông qua thủ tục hòa giải hoặc trường hợp hết thời hạn hòa giải mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải hoặc trường hợp hòa giải không thành.

Khi người sử dụng lao động và người lao động đồng thuận với nhau về việc yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết thì tranh chấp sẽ được giải quyết theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật Lao động năm 2019.

Thứ ba, Tòa án nhân dân

Theo các quy định nêu trên, Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động khi các bên có yêu cầu trong trường hợp: (1) tranh chấp thuộc trường hợp không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải; (2) hết thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày hòa giải viên lao động nhận được yêu cầu từ bên yêu cầu giải quyết tranh chấp hoặc từ cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân mà hòa giải viên lao động không tiến hành hòa giải; (3) trường hợp hòa giải không thành; (4) hết thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp Ban trọng tài lao động không được thành lập; (5) hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày Ban trọng tài lao động được thành lập mà Ban trọng tài lao động không ra quyết định giải quyết tranh chấp hoặc (6) khi một trong các bên không thi hành quyết định giải quyết tranh chấp của Ban trọng tài lao động.

 

3. Đi làm thêm không được trả tiền thì phải làm sao?

Trường hợp thứ nhất nếu bạn và tiệm cắt tóc không kí kết hợp đồng lao động 

Do giữa bạn và tiệm cắt tóc không giao kết hợp đồng lao động nên trường hợp của bạn không thể căn cứ vào hợp đồng lao động để yêu cầu tiệm cắt tóc thanh toán tiền lương cho bạn. Bởi vậy để có căn cứ đòi lại tiền lương tiệm cắt tóc không thanh toán, bạn cần chứng minh được mình đã có khoảng thời gian làm việc thực tế tại tiệm.

Về việc chứng minh: bạn có thể nhờ đến sự làm chứng của những người làm cùng ca với bạn (lập thành văn bản) để chứng minh cho việc bạn đã làm việc tại tiệm trong thời gian qua. Sau đó bạn nộp giấy tờ này cho chủ tiệm để yêu cầu trả lương cho bạn,trường hợp nếu chủ tiệm vẫn cố tình không giải quyết thì bạn có thể làm đơn khởi kiện đến Sở lao động thương binh và xã hội, để nhờ cơ quan này can thiệp và hòa giải. Nếu sự hòa giải này vẫn không mang lại kết quả cho bạn, thì bạn có thể khởi kiện đến Tòa án nhân dân cấp huyện (nơi đặt trụ sở của công ty) để Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bạn. 

Trường hợp thứ hai nếu bạn và tiệm có kí hợp đồng lao động 

Trường hợp bạn và tiệm ký hợp đồng lao động thì bạn có thể căn cứ vào hợp đồng lao động để yêu cầu chủ tiệm trả lương cho bạn, nếu chủ tiệm không chịu trả thì bạn có thể làm đơn khởi kiện đến Sở lao động thương binh và xã hội, để nhờ cơ quan này can thiệp và hòa giải. Nếu sự hòa giải này vẫn không mang lại kết quả cho bạn, thì bạn có thể khởi kiện đến Tòa án nhân dân cấp huyện (nơi đặt trụ sở của công ty) để Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bạn. 

Tham khảo bài viết liên quan:

Người lao động có được trả lương không ?

Khoản thanh toán khi người lao động nghỉ việc ?

Trả lương lao động thời vụ ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi tới địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn Pháp luật