1. Giám đốc thẩm là gì?

Giám đốc thẩm là thủ tục đặc biệt, chỉ được tiến hành khi có kháng nghị giám đốc thẩm. Đó là đặc điểm khác biệt so với các thủ tục xét xử thông thường như sơ thẩm (đương nhiên được thực hiện khi có khởi kiện hợp pháp của đương sự), phúc thẩm (đương nhiên được thực hiện khi có kháng cáo hợp pháp của đương sự hoặc các kháng nghị của Viện kiểm sát). Các Thẩm phán không tham gia trực tiếp giám đốc thẩm cũng có thể tham gia vào trình tự giám đốc công tác xét xử bằng việc phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và thông báo cho những người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm.

Đối tượng của việc kháng nghị giám đốc thẩm chỉ là những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bao gồm:

- Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;

- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng;

- Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.

Kháng nghị và giám đốc thẩm là cơ chế nhằm khắc phục sai lầm nghiêm trọng của Tòa án trong việc giải quyết vụ án mà bản án, quyết định đó đã có hiệu lực. Vì vậy, cấp giám đốc thẩm không phải là cấp xét xử thứ 3 sau sơ thẩm và phúc thẩm.

 

2. Phát hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại 

Theo Điều 372 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Người bị kết án, cơ quan, tổ chức và mọi cá nhân có quyền phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị.

- Tòa án nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện để phát hiện vi phạm pháp luật và kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét kháng nghị.

Tòa án quân sự cấp quân khu thực hiện việc kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự khu vực để phát hiện vi phạm pháp luật và kiến nghị Chánh án Tòa án quân sự trung ương xem xét kháng nghị.

- Khi thực hiện công tác giám đốc việc xét xử, kiểm sát việc xét xử hoặc qua các nguồn thông tin khác mà Tòa án, Viện kiểm sát phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì thông báo ngay bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị.

 

3. Thủ tục thông báo bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại 

Bộ luật tố tụng hình sự 2003 không có quy định về thủ tục thông báo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm.

Điều 374 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định:

1. Khi phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì người bị kết án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo bằng văn bản hoặc trình bày trực tiếp với người có thẩm quyền kháng nghị hoặc với Tòa án, Viện kiểm sát nơi gần nhất kèm theo chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu có).

2. Văn bản thông báo có các nội dung chính:

a) Ngày, tháng, năm;

b) Tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo;

c) Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị phát hiện có vi phạm pháp luật;

d) Nội dung vi phạm pháp luật được phát hiện;

đ) Kiến nghị người có thẩm quyền xem xét kháng nghị.

3. Người thông báo là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; trường hợp cơ quan, tổ chức thông báo thì người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu.

+ Thay cho đơn yêu cầu kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, khi phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì người bị kết án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo bằng văn bản hoặc trình bày trực tiếp với người có thẩm quyền kháng nghị hoặc với Tòa án, Viện kiểm sát nơi gần nhất kèm theo chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu có). Căn cứ theo Điều 374 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định thủ tục thông báo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm:;

+ Văn bản thông báo phải có các nội dung chính sau: ngày, tháng, năm; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo; bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị phát hiện có vi phạm pháp luật; nội dung các vi phạm pháp luật được phát hiện; kiến nghị người có thẩm quyền xem xét kháng nghị. Cuối văn bản thông báo, người thông báo là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; trường hợp cơ quan, tổ chức thông báo thì người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu.

 

4. Tiếp nhận thông báo bản án, quyết định của Tòa án cần xét lại 

Điều 375, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định thủ tục tiếp nhận thông báo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm:

+ Khi nhận được thông báo bằng văn bản thì Tòa án, Viện kiểm sát phải vào sổ nhận thông báo. Khi người bị kết án, cơ quan, tổ chức, cá nhân trình bày trực tiếp về vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì Tòa án, Viện kiểm sát phải lập biên bản; nếu người thông báo cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật thì Tòa án, Viện kiểm sát phải lập biên bản thu giữ;

+ Tòa án, Viện kiểm sát đã nhận thông báo, lập biên bản phải gửi ngay thông báo, biên bản kèm theo các chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu có) cho người có thẩm quyền kháng nghị và thông báo lại bằng văn bản cho người bị kết án, cơ quan, tổ chức, cá nhân đã kiến nghị, đề nghị biết.

Việc bổ sung các quy định về thông báo và nhận thông báo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, theo đó không chỉ Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền, mà cả Tòa án, Viện kiểm sát nơi gần nhất có trách nhiệm tiếp nhận và gửi thông báo về bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm cho người có thẩm quyền kháng nghị là rất cần thiết nhằm không những nâng cao trách nhiệm của Tòa án và Viện kiểm sát đối với người bị kết án, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc khắc phục những vi phạm pháp luật của bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, mà còn nâng cao tính kịp thời, hiệu quả trong tiếp nhận yêu cầu giám đốc thẩm; khắc phục được tình trạng đơn yêu cầu được chuyển lòng vòng không đúng địa chỉ.

 

5. Thủ tục chuyển hồ sơ vụ án để xem xét kháng nghị  

Điều 376, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định thủ tục chuyển hồ sơ vụ án để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Theo đó, nhằm bảo đảm cho việc kháng nghị nhanh chóng, kịp thời khắc phục các vi phạm pháp luật của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, điều luật quy định trường hợp cần thiết phải nghiên cứu hồ sơ vụ án để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thì Tòa án, Viện kiểm sát nơi mà Chánh án, Viện trưởng có thẩm quyền kháng nghị yêu cầu bằng văn bản để Tòa án đang quản lý hồ sơ chuyển hồ sơ vụ án; trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, Tòa án đang quản lý hồ sơ vụ án phải chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án, Viện kiểm sát đã yêu cầu.

Trường hợp Tòa án và Viện kiểm sát cùng có văn bản yêu cầu thì Tòa án đang quản lý hồ sơ vụ án chuyển hồ sơ cho cơ quan có yêu cầu trước và thông báo cho cơ quan yêu cầu sau biết.

 

6. Thời hạn, thủ tục kháng nghị và gửi kháng nghị và hình thức quyết định kháng nghị

Các điều 378, 379, 380, 381 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã sửa đổi, bổ sung và cơ cấu lại các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thời hạn, thủ tục kháng nghị và gửi kháng nghị; hình thức quyết định kháng nghị; việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị và việc tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

+ Điều 378 quy định cụ thể hơn, đầy đủ hơn về hình thức bản quyết định kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Theo đó, quyết định kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm phải có các nội dung chính sau: số, ngày, tháng, năm của quyết định; người có thẩm quyền ra quyết định; số, ngày, tháng, năm của bản án, quyết định bị kháng nghị; nhận xét, phân tích những vi phạm pháp luật, sai lầm của bản án, quyết định bị kháng nghị; căn cứ pháp luật để quyết định khống nghị; quyết định kháng nghị toàn bộ hay một phần bản án, quyết định; tên của Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm vụ án và yêu cầu của người kháng nghị.

Việc quy định cụ thể, đầy đủ nội dung kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm giúp cho các thành viên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm dễ dàng xác định phạm vi giám đốc thẩm; giúp cho Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng được triệu tập có điều kiện thuận lợi hơn để trình bày ý kiến và chuẩn bị tranh tụng tại phiên tòa giám đốc thẩm.

+ Điều 379 giữ nguyên quy định thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật trong trường hợp kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án; việc kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án là không có thời hạn, kể cả trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ; thời hạn kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được tiến hành theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Đồng thời, điều luật cũng quy định nếu không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, thì người có quyền kháng nghị phải trả lời bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã kiến nghị biết rõ lý do của việc không kháng nghị.

+ Điều 380 có những sửa đổi, bổ sung quan trọng trong việc gửi quyết định kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Theo đó, trong mọi trường hợp, quyết định kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm phải được gửi ngay cho Tòa án đã ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị; người bị kết án và những người khác (cơ quan, tổ chức, cá nhân) có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến nội dung kháng nghị; đến cơ quan có thẩm quyền thi hành bản án, quyết định bị kháng nghị là cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án dân sự để có biện pháp bảo vệ quyền lợi của mình liên quan đến kháng nghị hoặc xử lý việc thi hành bản án, quyết định bị kháng nghị (khoản 1). Cùng với kháng nghị, quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm phải được gửi cho Tòa án, Viện kiểm sát nơi đã xét xử sơ thẩm và cơ quan thi hành án có thẩm quyền để tổ chức và kiểm sát thi hành quyết định đó.

Điều luật cũng quy định thủ tục và thời hạn gửi bản kháng nghị. Trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị thì quyết định kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án phải được gửi ngay cho Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm; trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương kháng nghị thì quyết định kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền. Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải gửi quyết định kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải gửi lại hồ sơ vụ án cho Toà án (khoản 2).

Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương kháng nghị thì quyết định kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án phải gửi ngay cho Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm (khoản 3).

+ Theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được tách thành một điều luật (Điều 381) quy định về thủ tục và hậu quả pháp lý của việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Theo quy định thì người kháng nghị có quyền bổ sung, thay đổi kháng nghị trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa nếu chưa hết thời hạn kháng nghị. Việc sửa đổi, bổ sung trước khi mở phiên tòa phải bằng quyết định và được gửi ngay cho Tòa án đã ra bản án, quyết định bị kháng nghị; cho người bị kết án và những người khác (cơ quan, tổ chức, cá nhân) có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng nghị; đến cơ quan có thẩm quyền thi hành bản án, quyết định bị kháng nghị là Cơ quan thi hành án hình sự, Cơ quan thi hành án dân sự; việc sửa đổi, bổ sung kháng nghị tại phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa.

Trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm, người kháng nghị có quyền rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị. Việc rút kháng nghị trước khi mồ phiên tòa phải bằng quyết định; việc rút kháng nghị tại phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa. Trường hợp rút toàn bộ kháng nghị trước khi mở phiên tòa thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm. Trường hợp rút toàn bộ kháng nghị tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm.

Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm gửi quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm cho Tòa án đã ra bản án, quyết định bị kháng nghị, cơ quan thi hành án, người bị kết án và những người khác (cơ quan, tổ chức, cá nhân) có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng nghị và Viện kiểm sát cùng cấp.

 

7. So sánh thủ tục giám đốc thẩm của Việt Nam với một số quốc gia trên thế giới

Về những người có quyền đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm:

Theo Điều 372 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 của Việt Nam thì:

"1. Người bị kết án, cơ quan, tổ chức và mọi cá nhân có quyền phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị.

2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện để phát hiện vi phạm pháp luật và kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét kháng nghị.

Tòa án quân sự cấp quân khu thực hiện việc kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự khu vực để phát hiện vi phạm pháp luật và kiến nghị Chánh án Tòa án quân sự trung ương xem xét kháng nghị…”.

Qua nghiên cứu luật tố tụng hình sự của các nước thấy pháp luật của Việt Nam quy định khá rộng đối tượng có quyền phát hiện, đề xuất kháng nghị giám đốc thẩm. Theo Điều 203 Bộ luật tố tụng hình sự Trung Quốc, chỉ có đương sự hoặc người đại diện hợp pháp theo pháp luật hoặc họ hàng thân thích của họ có thể nộp đơn đến Tòa án nhân dân hoặc Viện kiểm sát nhân dân yêu cầu xem xét lại tính pháp lý của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Điều 402 Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga quy định: Người bị kết án, người được Tòa án tuyên vô tội, người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ cũng như Kiểm sát viên có quyền kháng cáo, kháng nghị về việc xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sựCộng hòa Pháp quy định: trong trường hợp quyết định của Tòa án điều tra phúc thẩm, bản án phúc thẩm, bản án chung thẩm về trọng tội, khinh tội hoặc tội vi cảnh có vi phạm pháp luật, thì Viện công tố hoặc các bên bị thiệt hại có thể kháng cáo, kháng nghị lên Tòa Phá án để xin hủy quyết định hoặc bản án đó. Điều 216 Bộ luật tố tụng hình sự Thái Lan quy định: Các bên có quyền kháng cáo DIKA đối với bản án hay quyết định phúc thẩm. Điều 691 Bộ luật tố tụng hình sự Canada chỉ quy định người bị kết án có quyền kháng cáo lên Tòa án tối cao Canada nếu bản án sơ thẩm vẫn được Tòa phúc thẩm giữ nguyên. Bộ luật tố tụng hình sự của Nhật Bản lại không quy định ai có quyền phát hiện, yêu cầu xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật.

Về thẩm quyền giám đốc thẩm:

Bộ luật tố tụng hình sự 2015 của nước ta quy định có các cấp giám đốc thẩm là Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao; Hội đồng toàn thể Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao; Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương; Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối.

Nghiên cứu luật tố tụng hình sự của một số nước,có thể nhận thấy, xu hướng chung của các nước là quy định chủ thể có quyền giám đốc thẩm rất hạn chế, hầu hết chỉ quy định một cấp Tòa án có quyền giám đốc thẩm, tập trung quyền này vào một tòa duy nhất là Tòa phá án hoặc Tòa án tối cao. Các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada đều quy định theo hướng này. Luật tố tụng hình sự cộng hòa Pháp quy định thẩm quyền phá án thuộc tòa phá án. Cũng có một số nước như Liên bang Nga, Trung Quốc, quy định ngoài Tòa án tối cao, một số Tòa án khác cũng có quyền giám đốc thẩm. Theo quy định tại Điều 403 Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga, thẩm quyền giám đốc thẩm gồm có ba cấp như sau: Ủy ban thẩm phán của Tòa án tối cao nước Cộng hòa; Tòa án vùng, khu vực; Tòa án thành phố thuộc liên bang và Ủy ban thẩm phán Tòa án quân sự vùng, khu vực; Ủy ban thẩm phán về các vụ án hình sự và Ủy ban thẩm phán Tòa án quân sự thuộc Tòa án tối cao liên bang; Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao Liên bang Nga. Do tổ chức nhà nước Liên bang Nga là nhà nước liên bang nên thẩm quyền giám đốc thẩm gồm nhiều cấp nhưng nếu xét trong phạm vi nước Cộng hòa thì chỉ có một cấp thuộc Tòa án tối cao nước Cộng hòa; còn ở liên bang có hai cấp thuộc Tòa án tối cao liên bang.

8. Một số câu hỏi thường gặp về thủ tục giám đốc thẩm

8.1 Hội đồng giám đốc thẩm có thẩm quyền gì?

Điều 388 BLTTHS 2015 quy định về Thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm như sau:

1. Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị.

2. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm bị hủy, sửa không đúng pháp luật.

3. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại.

4. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án.

5. Sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

6. Đình chỉ xét xử giám đốc thẩm.

 

8.2 Chuẩn bị phiên tòa giám đốc thẩm như thế nào?

Theo Điều 384 BLTTHS 2015:

Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán là thành viên Hội đồng giám đốc thẩm làm bản thuyết trình về vụ án. Bản thuyết trình tóm tắt nội dung vụ án và các bản án, quyết định của các cấp Tòa án, nội dung của kháng nghị.

Bản thuyết trình và các tài liệu có liên quan phải gửi cho các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm chậm nhất là 07 ngày trước ngày mở phiên tòa giám đốc thẩm.

 

8.3 Phiên tòa giám đốc thẩm phải có sự tham gia của những ai?

Theo Điều 383 BLTTHS 2015:

1. Phiên tòa giám đốc thẩm phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp.

2. Trường hợp xét thấy cần thiết hoặc có căn cứ sửa một phần bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, Tòa án phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm; nếu họ vắng mặt thì phiên tòa giám đốc thẩm vẫn được tiến hành.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)