. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của tôi tại công ty , đồng thời việc chuyển từ quản lý sang làm công nhân đối với tôi là 1 sự chênh lệch quá lớn về mức lương cũng như tính chất công việc . Tôi nhiều lần ủy quyền cho công đoàn thương lượng với công ty nhưng không thành .

Tôi nộp đơn lên Phòng lao động , thương binh , xã hội quận và được hòa giải với công ty nhưng công ty vẫn không đồng ý và thông báo với tôi rằng nếu chấp nhận làm công nhân thì ký tiếp hợp đồng nếu không thì công ty sẽ cho thôi việc . 

Vậy thưa luật sư tôi phải làm thế nào để đòi lại quyền lợi và công việc của mình ?

Tôi xin chân thành cám ơn ! 

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật Lao động của công ty Luật Minh Khuê

Tôi muốn hỏi về chế độ hưởng BHYT nghỉ dưỡng sau sinh của giáo viên ?

Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

I. Cơ sở pháp lý

Bộ luật lao động 2012

II. Nội dung tư vấn

Điều 158 BLLĐ quy định:

Điều 158. Bảo đảm việc làm cho lao động nữ nghỉ thai sản

Lao động nữ được bảo đảm việc làm cũ khi trở lại làm việc sau khi nghỉ hết thời gian theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 157 của Bộ luật này; trường hợp việc làm cũ không còn thì người sử dụng lao động phải bố trí việc làm khác cho họ với mức lương không thấp hơn mức lương trước khi nghỉ thai sản.

Điều 31 Bộ luật lao động quy định:

Điều 31. Chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động

1. Khi gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động được quyền tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động, nhưng không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm, trừ trường hợp được sự đồng ý của người lao động.

2. Khi tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít nhất 03 ngày làm việc, thông báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khoẻ, giới tính của người lao động.

3. Người lao động làm công việc theo quy định tại khoản 1 Điều này được trả lương theo công việc mới; nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương công việc cũ thì được giữ nguyên mức tiền lương cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Tiền lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 85% mức tiền lương công việc cũ nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.

Vậy , theo các căn cứ trên , thứ nhất công ty viện dẫn  lý do để điều chuyển bạn sang công việc khác  như trong quyết định điều chuyển là không đúng với quy định của pháp luật theo điều 31 BLLĐ . Mặt khác ,  theo điều 157 , BLLĐ sau khi nghỉ thai sản mà vị trí công việc của bạn không còn thì công ty phải sắp xếp cho bạn 1 công việc mới với mức lương không thấp hơn mức lương công việc bạn  làm trước khi nghỉ thai sản . Ở đây công ty đã sắp xếp cho bạn với mức lương thấp hơn mức lương công việc cũ là trái với quy định của pháp luật. 

Sau khi yêu cầu công đoàn cơ sở cũng như Phòng lao động , thương binh & xã hội cấp quận hòa giải mà bạn và công ty vẫn chưa thỏa thuận được thì bạn có thể đòi lại quyền lợi của mình bằng cách yêu cầu hòa giải viên lao động hoặc khởi kiện tại tòa án nhân dân cấp  huyện .

Điều 200. Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Hoà giải viên lao động.

2. Toà án nhân dân.

Điều 201. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

1. Tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế;

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hoà giải, hòa giải viên lao động phải kết thúc việc hòa giải.

3. Tại phiên họp hoà giải phải có mặt hai bên tranh chấp. Các bên tranh chấp có thể uỷ quyền cho người khác tham gia phiên họp hoà giải.

Hoà giải viên lao động có trách nhiệm hướng dẫn các bên thương lượng. Trường hợp hai bên thỏa thuận được, hòa giải viên lao động lập biên bản hòa giải thành.

Trường hợp hai bên không thỏa thuận được, hòa giải viên lao động đưa ra phương án hoà giải để hai bên xem xét. Trường hợp hai bên chấp nhận phương án hoà giải, hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải thành.

Trường hợp hai bên không chấp nhận phương án hoà giải hoặc một bên tranh chấp đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì hoà giải viên lao động lập biên bản hoà giải không thành.

Biên bản có chữ ký của bên tranh chấp có mặt và hoà giải viên lao động.

Bản sao biên bản hoà giải thành hoặc hoà giải không thành phải được gửi cho hai bên tranh chấp trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản.

4. Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết.

Điều 202. Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

2. Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

Vậy , trường hợp của bạn , bạn cần  yêu cầu hòa giải viên lao động trước khi khỏi kiện ra tòa án , nếu hòa giải không thành hoặc hòa giải thành mà công ty không thực hiện đúng theo biên bản hỏa giải thì bạn có thể nôp hồ sơ yêu cầu khởi kiện tại tòa án theo quy định tịa bộ luật tố tụng dân sự  . Hồ sơ bao gồm :

Bản sao Chứng minh thư nhân dân của bạn 

Hợp đồng lao động giữa bạn và công ty ( bản sao)

Bảng lương theo công việc trước khi nghỉ thai sản của bạn 

Quyết định điều chuyển công tác kèm theo bảng  lương công việc mới 

Quyết định nghỉ thai sản 

Đơn khởi kiện  yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân .

Sau khi nộp hồ sơ và tiền tạm ứng án phí tòa án sẽ ra quyết định thụ lý vụ án và  trong vòng 2- 4 tháng  sau  khi thụ lý vụ án  tòa án sẽ ra quyết định xét xử .

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Lao động.