Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý

- Bộ luật lao động năm 2012

2. Luật sư tư vấn

Căn cứ theo quy định của Bộ luật lao động 2012 thì khi người sử dụng lao động giao nhận người lao động vào làm việc thì phải trực tiếp giao kết hợp đồng lao động, hai bên phải có sự thỏa thuận về vấn đề vị trí làm việc, tiền lương và một số quy định khác trong quá trình làm việc. Cụ thể, điều 18 Bộ luật lao động quy định về nghĩa vụ giao kết hợp đồng lao động:

Điều 18. Nghĩa vụ giao kết hợp đồng lao động

1. Trước khi nhận người lao động vào làm việc, người sử dụng lao động và người lao động phải trực tiếp giao kết hợp đồng lao động.

Trong trường hợp người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì việc giao kết hợp đồng lao động phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật của người lao động.

2. Đối với công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng thì nhóm người lao động có thể ủy quyền cho một người lao động trong nhóm để giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản; trường hợp này hợp đồng lao động có hiệu lực như giao kết với từng người.

Hợp đồng lao động do người được ủy quyền giao kết phải kèm theo danh sách ghi rõ họ tên, tuổi, giới tính, địa chỉ thường trú, nghề nghiệp và chữ ký của từng người lao động.

Theo thông tin mà bạn cung cấp thì vợ bạn đã vào làm việc tại công ty từ tháng 9/2017 đến tháng 5/2018 nhưng chưa được ký hợp đồng lao động, như vậy công ty nơi vợ bạn làm việc đã có sự vi phạm về nghĩa vụ giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, vì vợ bạn đã được nhận vào làm việc tại công ty thì quan hệ lao động giữa vợ bạn và công ty đã được xác lập, do đó, khi công ty cho vợ bạn nghỉ việc mà không có lý do hợp lý thì công ty phải bồi thường cho vợ bạn theo quy định tại điều 42 Bộ luật lao động 2012 là buộc nhận vợ bạn quay trở lại làm việc và trả tiền lương, bảo hiểm xã hội , bảo hiểm y tế cho những ngày người lao động không được làm việc. Trong trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc tại công ty thì công ty phải bồi thường cho vợ bạn những khoản tiền trên và chi trả phần trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật.

Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê