1. Chế độ khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động?

Kính chào luật sư ! Vợ tôi đang làm cho 1 công ty của Nhật, và ký họp đồng vô thời hạn,vợ tôi đang chăm sóc con nhỏ 9 tháng tuổi. Nay vợ tôi muốn đơn phương chấm dứt họp đồng mà không báo trước 45 ngày có được không, và có được hưởng chế độ gì không?
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: P.T.H

>> Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

- Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng theo quy định tại Điều 35 Bộ luật lao động năm 2019 như sau:

Điều 35. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;

b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;

c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;

e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

Vì vậy, vợ bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không xác định thời hạn mà không báo trước cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày có nghĩa là vợ bạn đã thực hiện đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật theo quy định tại Điều 39 Bộ luật lao động 2019

Điều 39. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 35, 36 và 37 của Bộ luật này.

Điều 40. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc.

2. Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

- Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì người lao động phải thực hiện các nghĩa vụ được quy định tại Điều 40 Bộ luật lao động như sau:

Điều 40. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc.

2. Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

- Ngoài ra, nếu đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, vợ bạn cũng sẽ không được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại Điều 49 Luật việc làm 2013. Tuy nhiên, vợ bạn vẫn sẽ được hưởng các quyền lợi về bảo hiểm y tế, bảo hiểm hiểm xã hội nếu đủ điều kiện hưởng theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và luật bảo hiểm y tế.

>> Xem thêm:  Tư vấn đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà hợp pháp mới 2021 ?

2. Hiệu trưởng đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động?

Chào luật sư. Cho cá nhân tôi được hỏi thông tin như sau: Ngày 28/6/2020 Ông B Hiệu trưởng Trường CĐ N họp phòng TCHC và thông báo cho tôi nghỉ việc từ ngày 1/3/2021 với 2 lý do:
"Thứ nhất: Tháng 12 Hiệu trưởng nghỉ thì sẽ cho nghỉ những người Hiệu Trưởng tuyển dụng vào để khỏi ảnh hưởng đến Hiệu trưởng mới.
Thứ hai: Trường hết việc để xây dựng sửa chữa."

Nay tôi viết đơn gửi thư viện pháp luật xem xét.

Thứ nhất: Với 2 lý do nêu trên mà hiệu trưởng cho tôi nghỉ việc có đúng hay không trong khi tôi đang là viên chức nhà nước, với hợp đồng không xác định thời hạn. Chưa từng bị khiển trách hay vi phạm kỷ luật

Thứ hai: Nếu cho tôi nghỉ việc với lý do thứ nhất của hiệu trưởng thì những người được tuyển dụng sau khi Hiệu trưởng về trường tại sao chỉ thông báo cho một mình tôi nghỉ việc.

Thứ ba: Nếu cho tôi nghỉ việc với lý do thứ hai của hiệu trưởng thì cũng không đúng vì theo kế hoạch của năm 2016 công việc sữa chữa còn rất nhiều. Thậm chí trong cuộc họp giao ban của phòng lãnh đạo phòng cũng đã nêu câu: Theo cuộc họp giao ban tháng 6 của trường, phòng THCH cũng đã lên kế hoạch cải tạo sữa chữa trong dịp nghỉ hè. Như vậy tôi thấy cả hai lý do hiệu trưởng nêu ra là chưa thỏa đáng mà chủ yếu mang tính cá nhân. (Tôi sẽ báo cáo nếu có yêu cầu). Và tôi cũng xin hỏi tại sao tôi chưa nghỉ việc nhưng tài khoản bin trên wepsite trường tôi không thể gửi và xem mail được.

Tôi làm đơn này gửi đến thư viện pháp luật xem xét và hướng dẫn các thủ tục tiếp theo. Trân trọng cám ơn.

>> Luật sư tư vấn luật lao động qua tổng đài điện thoại, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì bạn đang là viên chức do đó luật áp dụng cho bạn trong trường hợp này là Luật viên chức năm 2010.

Ngoài ra, theo dữ liệu bạn đưa ra thì hiệu trưởng chấm dứt hợp đồng với bạn vì lý do:

1 - Tháng 8 Hiệu trưởng nghỉ thì sẽ cho nghỉ những người Hiệu Trưởng tuyển dụng vào để khỏi ảnh hưởng đến Hiệu trưởng mới.

2 - Trường hết việc để xây dựng sửa chữa

Đối chiếu theo quy định pháp luật, cụ thể Điều 29 Luật Viên chức năm 2010 quy định thì lý do của Hiệu trưởng đưa ra là không phù hợp theo quy định pháp luật:

"Điều 29. Đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc

1. Đơn vị sự nghiệp công lập được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức trong các trường hợp sau:

a) Viên chức có 02 năm liên tiếp bị phân loại đánh giá ở mức độ không hoàn thành nhiệm vụ;

b) Viên chức bị buộc thôi việc theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 57 của Luật này;

c) Viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc không xác định thời hạn bị ốm đau đã điều trị 12 tháng liên tục, viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc xác định thời hạn bị ốm đau đã điều trị 06 tháng liên tục mà khả năng làm việc chưa hồi phục. Khi sức khỏe của viên chức bình phục thì được xem xét để ký kết tiếp hợp đồng làm việc;

d) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của Chính phủ làm cho đơn vị sự nghiệp công lập buộc phải thu hẹp quy mô, khiến vị trí việc làm mà viên chức đang đảm nhận không còn;

đ) Khi đơn vị sự nghiệp công lập chấm dứt hoạt động theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập phải báo cho viên chức biết trước ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng làm việc không xác định thời hạn hoặc ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng làm việc xác định thời hạn. Đối với viên chức do cơ quan quản lý đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện tuyển dụng, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc do người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập quyết định sau khi có sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan quản lý đơn vị sự nghiệp công lập.

3. Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập không được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức trong các trường hợp sau:

a) Viên chức ốm đau hoặc bị tai nạn, đang điều trị bệnh nghề nghiệp theo quyết định của cơ sở chữa bệnh, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này;

b) Viên chức đang nghỉ hàng năm, nghỉ về việc riêng và những trường hợp nghỉ khác được người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập cho phép;

c) Viên chức nữ đang trong thời gian có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 36 tháng tuổi, trừ trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập chấm dứt hoạt động..."

Do đo, trong trường hợp này bạn hoàn toàn có quyền viết đơn kiến nghị yêu cầu Hiệu trưởng xem xét lại hoặc bạn có quyền yêu cầu Hòa giải viên lao động hoặc cơ quan Tòa án xem xét và giải quyết cho mình.

>> Xem thêm:  Hình thức của hợp đồng là gì ? Khái niệm về hình thức của hợp đồng

3. Chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật ?

Hôm nay chuyên mục Gõ cửa Luật sư sẽ tư vấn một tình huống pháp lý sau, Tôi là : Phạm Thị Tiến , tạm trú tại 663 Tạ Quang Bửu , P4, Q8 TP. Hồ Chí Minh , Xin được các luật sư tư vấn cho một vấn đề sau :
Tôi bị cty của tôi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật. Tôi đã khởi kiện tại Tòa án huyện Thuận an ( vì cty tôi thuộc địa bàn huyện Thuận An ) và sau đó tôi làm đơn kháng cáo tại Tòa án tỉnh Bình Dương . Tôi muốn hỏi : nếu tôi được xử thắng kiện thì cty của tôi sẽ phải trả cho tôi một khỏan tiền tương ứng với tiền lương và phụ cấp lương trong thời gian tôi không được làm việc . Vậy thời gian đó được tính như thế nào ? (Tôi bị nghỉ việc từ ngày 1/1/2021 , và ngày xét xử sơ thẩm là ngày 26/4/2021 , ngày xét xử phúc thẩm là ngày 12/5/2021 )
Kính mong được các luật sư tư vấn giúp tôi . Xin chân thành cảm ơn các luật sư .

Tổng đài luật sư trực tuyến gọi: 1900.6162.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoạigọi:1900.6162

Trả lời:

Ngày làm việc được quy định cụ thể trong Thỏa ước lao động tập thể của Công ty và hợp đồng lao động giao kết giữa hai bên. Do đó, trường hợp vụ việc được xét xử phúc thẩm mà quyết định của Tòa án tuyên bố là Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật thì ngày làm việc mà người lao động được trả lương sẽ tính từ thời điểm Công ty không cho người lao động làm việc (không trả lương) cho đến khi chính thức nhận người lao động trở lại làm việc.

Trong quan hệ lao động, người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản và phải được làm thành hai bản, mỗi bên giữ một bản. Chỉ với một số công việc có tính chất tạm thời mà thời hạn dưới ba tháng hoặc đối với lao động giúp việc gia đình thì các bên có thể giao kết bằng miệng (Điều 14 Bộ luật lao động năm 2019). Nếu người sử dụng lao động không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản mà vẫn để người lao động làm việc thì tùy theo mức độ vi phạm, người sử dụng lao động sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 8 Nghị định 28/2020/NĐ-CP ngày 01/03/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động.

Tuy nhiên trong trường hợp này, người lao động cũng đương nhiên được xem như đang làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Do đó, khi Công ty chuyển quyền quản lý theo quy định tại Điều 31 Bộ luật lao động thì người sử dụng lao động mới phải chịu trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp đồng không xác định thời hạn với mức lương mà người lao động đang được hưởng.

Trong trường hợp người sử dụng lao động mới muốn thay đổi mức lương của người lao động thì phải thỏa thuận với người lao động. Nếu muốn giao kết hợp đồng lao động xác định thời hạn với người lao động thì buộc phải chấm dứt hợp đồng lao động không xác định thời hạn mà người lao động đang làm việc.

Ngoài ra, khi chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý Công ty mà sử dụng hết số lao động hiện có thì phải có phương án sử dụng lao động theo hướng dẫn tại Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ thì phương án sử dụng lao động gồm các nội dung chủ yếu sau đây:

1. Số lao động tiếp tục được sử dụng;

2. Số lao động đưa đi đào tạo lại để tiếp tục sử dụng;

3. Số lao động nghỉ hưu;

4. Số lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động;

5. Người sử dụng lao động cũ và người sử dụng lao động kế tiếp phải có trách nhiệm giải quyết các quyền lợi của người lao động, trong đó phải xác định rõ trách nhiệm về khoản kinh phí đào tạo, kinh phí trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động.

Đồng thời, khi xây dựng phương án sử dụng lao động phải có sự tham gia của Công đoàn cơ sở và khi thực hiện phải thông báo với cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh về lao động. Nếu người sử dụng lao động kế tiếp chấm dứt hợp đồng với người lao động thì phải được nêu rõ trong phương án sử dụng lao động và phải trả trợ cấp mất việc, cứ mỗi năm làm việc trả một tháng lương, nhưng thấp nhất cũng bằng hai tháng lương (theo quy định tại Ddiều 42 Bộ luật lao động năm 2019). Trong trường hợp người sử dụng lao động không lập phương án sử dụng lao động mà đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là trái quy định của pháp luật.

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng! Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Luật sư tư vấn khởi kiện vụ án lao động tại toà án

>> Xem thêm:  Khoản bồi thường khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động được quy định như thế nào?

4. Tư vấn thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động?

Xin chào luật sư, e và cả công ty đang rất thắc mắc và bức xúc một vấn đề mà không biết kêu ai giúp đỡ. Công ty em nợ lương công nhân 2 tháng cuối năm 2020 là tháng 11 và tháng 12. Rồi tháng 1 năm 2021, giám đốc mới lên và giám đốc mới bảo không chịu trách nhiệm với 2 tháng cũ ấy. Người lao động chúng em không biết phải làm sao, chả lẽ 2 tháng ấy chúng em lao động không công?
Xin luật sư tư vấn cho em, em nên làm gì ạ, em xin cảm ơn ạ.

Tư vấn thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động ?

Trả lời:

Đối với trường hợp này của công ty bạn, công ty nợ lương, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán lương cho người lao động, phía người lao động có quyền yêu cầu công ty thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền lương nếu công ty không chấp nhận, phía bên người lao động có quyền khởi kiện phía công ty yêu cầu công ty thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền lương cho công nhân.

Bên cạnh đấy, theo quy định tại điều 97 Bộ luật lao động năm 2019 quy định kỳ hạn trả lương

Điều 97. Kỳ hạn trả lương

1. Người lao động hưởng lương theo giờ, ngày, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc được trả gộp do hai bên thỏa thuận nhưng không quá 15 ngày phải được trả gộp một lần.

2. Người lao động hưởng lương theo tháng được trả một tháng một lần hoặc nửa tháng một lần. Thời điểm trả lương do hai bên thỏa thuận và phải được ấn định vào một thời điểm có tính chu kỳ.

3. Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thỏa thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.

4. Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày; nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương

5. Những điểm mới trong Bộ luật lao động 2019

Trả lời:

Bộ luật lao động 2019 sẽ chính thức có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 01/01/2021 với nhiều điểm mới nổi bật như:

Giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói

Có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói đối với hợp đồng có thời hạn dưới 01 tháng, trừ trường hợp:

– Đối với công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng thì nhóm người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên có thể ủy quyền cho một người lao động trong nhóm để giao kết hợp đồng lao động; trong trường hợp này, hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và có hiệu lực như giao kết với từng người lao động;

– Phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người chưa đủ 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật của người đó;

– Người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với lao động là người giúp việc gia đình.

Bổ sung thêm hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động

Người sử dụng lao động sẽ không được buộc người lao động thực hiện hợp đồng lao động để trả nợ cho người sử dụng lao động. Hành vi này được bổ sung thêm bởi khoản 3 Điều 17 Bộ luật lao động 2019.

Không còn hợp đồng mùa vụ

Kể từ ngày 01/01/2021, người lao động và người sử dụng lao động có thể thảo thuận và tiến hành giao kết hợp đồng lao động dưới một trong các loại sau đây:

– Hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

– Hợp đồng lao động xác định thời hạn, trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chất dứt của hợp đồng lao động trong thời gian không quá 36 tháng kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực.

Hợp đồng lao động điện tử

Hợp đồng lao động được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản.

Theo đó, các bên trong quan hệ lao động sẽ có thêm sựa lựa chọn về hình thức giao kết hợp đồng lao động.

Thời gian thử việc

Thời gian này sẽ được tăng lên mức tối đa là 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp.

Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần lý do

Bổ sung quy định về thời hạn báo trước

Tăng độ tuổi nghỉ hưu

Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với lao động nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với lao động nam và 04 tháng đối với lao động nữ.

Tăng thời gian nghỉ Quốc khánh

Tăng thời gian làm thêm

Được phép ủy quyền cho người khác nhận lương

Trả phí mở tài khoản ngân hàng để nhận lương

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thử việc bao lâu thì phải ký hợp đồng lao động ? Các chế độ được hưởng khi thử việc

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Quy định về hình thức hợp đồng lao động

Trả lời:

- Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

Hợp đồng lao động được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản.

- Hai bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói đối với hợp đồng có thời hạn dưới 01 tháng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18, điểm a khoản 1 Điều 145 và khoản 1 Điều 162 của Bộ luật này.

Câu hỏi: Nguyên tác giao kêt hợp đồng lao động theo quy định hiện hành

Trả lời:

- Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực.

- Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội.

Câu hỏi: Quy định về cung cấp thôn tin, khi giao kết hợp đồng lao động

Trả lời:

- Người sử dụng lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người lao động về công việc, địa điểm làm việc, điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn, vệ sinh lao động, tiền lương, hình thức trả lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quy định về bảo vệ bí mật kinh doanh, bảo vệ bí mật công nghệ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người lao động yêu cầu.

- Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu.