1. Chế độ khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?

Kính chào luật sư ! Vợ tôi đang làm cho 1 công ty của Nhật, và ký họp đồng vô thời hạn,vợ tôi đang chăm sóc con nhỏ 9 tháng tuổi. Nay vợ tôi muốn đơn phương chấm dứt họp đồng mà không báo trước 45 ngày có được không, và có được hưởng chế độ gì không?
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: P.T.H

>> Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

- Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng theo quy định tại Điều 35 Bộ luật lao động năm 2019 như sau:

Điều 35. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;

b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;

c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;

d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;

e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.

Vì vậy, vợ bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không xác định thời hạn mà không báo trước cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày có nghĩa là vợ bạn đã thực hiện đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật theo quy định tại Điều 39 Bộ luật lao động 2019

Điều 39. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 35, 36 và 37 của Bộ luật này.

Điều 40. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc.

2. Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

- Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì người lao động phải thực hiện các nghĩa vụ được quy định tại Điều 40 Bộ luật lao động như sau:

Điều 40. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc.

2. Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.

- Ngoài ra, nếu đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, vợ bạn cũng sẽ không được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại Điều 49 Luật việc làm 2013. Tuy nhiên, vợ bạn vẫn sẽ được hưởng các quyền lợi về bảo hiểm y tế, bảo hiểm hiểm xã hội nếu đủ điều kiện hưởng theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và luật bảo hiểm y tế.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Các khoản tiền được nhận khi nghỉ việc ? Người lao động tự ý nghỉ việc phải bồi thường những gì ?

2. Hiệu trưởng đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?

Chào luật sư. Cho cá nhân tôi được hỏi thông tin như sau: Ngày 28/6/2016 Ông B Hiệu trưởng Trường CĐ N họp phòng TCHC và thông báo cho tôi nghỉ việc từ ngày 1/9/2016 với 2 lý do:
"Thứ nhất: Tháng 8 Hiệu trưởng nghỉ thì sẽ cho nghỉ những người Hiệu Trưởng tuyển dụng vào để khỏi ảnh hưởng đến Hiệu trưởng mới.
Thứ hai: Trường hết việc để xây dựng sửa chữa."

Nay tôi viết đơn gửi thư viện pháp luật xem xét.

Thứ nhất: Với 2 lý do nêu trên mà hiệu trưởng cho tôi nghỉ việc có đúng hay không trong khi tôi đang là viên chức nhà nước, với hợp đồng không xác định thời hạn. Chưa từng bị khiển trách hay vi phạm kỷ luật

Thứ hai: Nếu cho tôi nghỉ việc với lý do thứ nhất của hiệu trưởng thì những người được tuyển dụng sau khi Hiệu trưởng về trường tại sao chỉ thông báo cho một mình tôi nghỉ việc.

Thứ ba: Nếu cho tôi nghỉ việc với lý do thứ hai của hiệu trưởng thì cũng không đúng vì theo kế hoạch của năm 2016 công việc sữa chữa còn rất nhiều. Thậm chí trong cuộc họp giao ban của phòng lãnh đạo phòng cũng đã nêu câu: Theo cuộc họp giao ban tháng 6 của trường, phòng THCH cũng đã lên kế hoạch cải tạo sữa chữa trong dịp nghỉ hè. Như vậy tôi thấy cả hai lý do hiệu trưởng nêu ra là chưa thỏa đáng mà chủ yếu mang tính cá nhân. (Tôi sẽ báo cáo nếu có yêu cầu). Và tôi cũng xin hỏi tại sao tôi chưa nghỉ việc nhưng tài khoản bin trên wepsite trường tôi không thể gửi và xem mail được.

Tôi làm đơn này gửi đến thư viện pháp luật xem xét và hướng dẫn các thủ tục tiếp theo. Trân trọng cám ơn.

>> Luật sư tư vấn luật lao động qua tổng đài điện thoại, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì bạn đang là viên chức do đó luật áp dụng cho bạn trong trường hợp này là Luật viên chức năm 2010.

Ngoài ra, theo dữ liệu bạn đưa ra thì hiệu trưởng chấm dứt hợp đồng với bạn vì lý do:

1 - Tháng 8 Hiệu trưởng nghỉ thì sẽ cho nghỉ những người Hiệu Trưởng tuyển dụng vào để khỏi ảnh hưởng đến Hiệu trưởng mới.

2 - Trường hết việc để xây dựng sửa chữa

Đối chiếu theo quy định pháp luật, cụ thể Điều 29 Luật Viên chức năm 2012 quy định thì lý do của Hiệu trưởng đưa ra là không phù hợp theo quy định pháp luật:

"Điều 29. Đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc

1. Đơn vị sự nghiệp công lập được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức trong các trường hợp sau:

a) Viên chức có 02 năm liên tiếp bị phân loại đánh giá ở mức độ không hoàn thành nhiệm vụ;

b) Viên chức bị buộc thôi việc theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 57 của Luật này;

c) Viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc không xác định thời hạn bị ốm đau đã điều trị 12 tháng liên tục, viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc xác định thời hạn bị ốm đau đã điều trị 06 tháng liên tục mà khả năng làm việc chưa hồi phục. Khi sức khỏe của viên chức bình phục thì được xem xét để ký kết tiếp hợp đồng làm việc;

d) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của Chính phủ làm cho đơn vị sự nghiệp công lập buộc phải thu hẹp quy mô, khiến vị trí việc làm mà viên chức đang đảm nhận không còn;

đ) Khi đơn vị sự nghiệp công lập chấm dứt hoạt động theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập phải báo cho viên chức biết trước ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng làm việc không xác định thời hạn hoặc ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng làm việc xác định thời hạn. Đối với viên chức do cơ quan quản lý đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện tuyển dụng, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc do người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập quyết định sau khi có sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan quản lý đơn vị sự nghiệp công lập.

3. Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập không được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức trong các trường hợp sau:

a) Viên chức ốm đau hoặc bị tai nạn, đang điều trị bệnh nghề nghiệp theo quyết định của cơ sở chữa bệnh, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này;

b) Viên chức đang nghỉ hàng năm, nghỉ về việc riêng và những trường hợp nghỉ khác được người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập cho phép;

c) Viên chức nữ đang trong thời gian có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 36 tháng tuổi, trừ trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập chấm dứt hoạt động..."

Do đo, trong trường hợp này bạn hoàn toàn có quyền viết đơn kiến nghị yêu cầu Hiệu trưởng xem xét lại hoặc bạn có quyền yêu cầu Hòa giải viên lao động hoặc cơ quan Tòa án xem xét và giải quyết cho mình.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Quy định về xử lý kỷ luật bằng hình thức nhắc nhở bằng văn bản ? Cách viết đơn xin nghỉ việc ?

3. Chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật ?

Hôm nay chuyên mục Gõ cửa Luật sư sẽ tư vấn một tình huống pháp lý sau, Tôi là : Phạm Thị Tiến , tạm trú tại 663 Tạ Quang Bửu , P4, Q8 TP. Hồ Chí Minh , Xin được các luật sư tư vấn cho một vấn đề sau :
Tôi bị cty của tôi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật . Tôi đã khởi kiện tại Tòa án huyện Thuận an ( vì cty tôi thuộc địa bàn huyện Thuận An ) và sau đó tôi làm đơn kháng cáo tại Tòa án tỉnh Bình Dương . Tôi muốn hỏi : nếu tôi được xử thắng kiện thì cty của tôi sẽ phải trả cho tôi một khỏan tiền tương ứng với tiền lương và phụ cấp lương trong thời gian tôi không được làm việc . Vậy thời gian đó được tính như thế nào ? ( Tôi bị nghỉ việc từ ngày 24/4/2008 , và ngày xét xử sơ thẩm là ngày 26/8/2009 , ngày xét xử phúc thẩm là ngày 12/5/2010 )
Kính mong được các luật sư tư vấn giúp tôi . Xin chân thành cảm ơn các luật sư .

Tổng đài luật sư trực tuyến gọi: 1900.6162.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoạigọi:1900.6162

Trả lời:

Ngày làm việc được quy định cụ thể trong Thỏa ước lao động tập thể của Công ty và hợp đồng lao động giao kết giữa hai bên. Do đó, trường hợp vụ việc được xét xử phúc thẩm mà quyết định của Tòa án tuyên bố là Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật thì ngày làm việc mà người lao động được trả lương sẽ tính từ thời điểm Công ty không cho người lao động làm việc (không trả lương) cho đến khi chính thức nhận người lao động trở lại làm việc.

Trong quan hệ lao động, người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản và phải được làm thành hai bản, mỗi bên giữ một bản. Chỉ với một số công việc có tính chất tạm thời mà thời hạn dưới ba tháng hoặc đối với lao động giúp việc gia đình thì các bên có thể giao kết bằng miệng (Điều 28 Bộ luật lao động). Nếu người sử dụng lao động không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản mà vẫn để người lao động làm việc thì tùy theo mức độ vi phạm, người sử dụng lao động sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 10 Nghị định 113/2004/NĐ-CP ngày 16/4/2004 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động.

Tuy nhiên trong trường hợp này, người lao động cũng đương nhiên được xem như đang làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Do đó, khi Công ty chuyển quyền quản lý theo quy định tại Điều 31 Bộ luật lao động thì người sử dụng lao động mới phải chịu trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp đồng không xác định thời hạn với mức lương mà người lao động đang được hưởng.

Trong trường hợp người sử dụng lao động mới muốn thay đổi mức lương của người lao động thì phải thỏa thuận với người lao động. Nếu muốn giao kết hợp đồng lao động xác định thời hạn với người lao động thì buộc phải chấm dứt hợp đồng lao động không xác định thời hạn mà người lao động đang làm việc.

Ngoài ra, khi chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý Công ty mà sử dụng hết số lao động hiện có thì phải có phương án sử dụng lao động theo hướng dẫn tại Điều 6 Nghị định 44/2003/ NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ thì phương án sử dụng lao động gồm các nội dung chủ yếu sau đây:

1. Số lao động tiếp tục được sử dụng;

2. Số lao động đưa đi đào tạo lại để tiếp tục sử dụng;

3. Số lao động nghỉ hưu;

4. Số lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động;

5. Người sử dụng lao động cũ và người sử dụng lao động kế tiếp phải có trách nhiệm giải quyết các quyền lợi của người lao động, trong đó phải xác định rõ trách nhiệm về khoản kinh phí đào tạo, kinh phí trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động.

Đồng thời, khi xây dựng phương án sử dụng lao động phải có sự tham gia của Công đoàn cơ sở và khi thực hiện phải thông báo với cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh về lao động. Nếu người sử dụng lao động kế tiếp chấm dứt hợp đồng với người lao động thì phải được nêu rõ trong phương án sử dụng lao động và phải trả trợ cấp mất việc, cứ mỗi năm làm việc trả một tháng lương, nhưng thấp nhất cũng bằng hai tháng lương (theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Bộ luật lao động). Trong trường hợp người sử dụng lao động không lập phương án sử dụng lao động mà đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là trái quy định của pháp luật.

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng! Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Luật sư tư vấn khởi kiện vụ án lao động tại toà án

>> Xem thêm:  Thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động thực hiện như thế nào ?

4. Tư vấn thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động ?

Xin chào luật sư, e và cả công ty đang rất thắc mắc và bức xúc một vấn đề mà không biết kêu ai giúp đỡ. Công ty em nợ lương công nhân 2 tháng cuối năm 2015 là tháng 11 và tháng 12. Rồi tháng 1 năm 2016, giám đốc mới lên và giám đốc mới bảo không chịu trách nhiệm với 2 tháng cũ ấy. Người lao động chúng em không biết phải làm sao, chả lẽ 2 tháng ấy chúng em lao động không công?
Xin luật sư tư vấn cho em, em nên làm gì ạ, em xin cảm ơn ạ.

Tư vấn thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động ?

Luật sư tư vấn:

Chào bạn, công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn, cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Vấn đề của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

Đối với trường hợp này của công ty bạn, công ty nợ lương, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán lương cho người lao động, phía người lao động có quyền yêu cầu công ty thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền lương nếu công ty không chấp nhận, phía bên người lao động có quyền khởi kiện phía công ty yêu cầu công ty thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền lương cho công nhân.

Bên cạnh đấy, theo quy định tại điều 95 Bộ luật lao động năm 2019 quy định kỳ hạn trả lương

"

Điều 97. Kỳ hạn trả lương

1. Người lao động hưởng lương theo giờ, ngày, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc được trả gộp do hai bên thỏa thuận nhưng không quá 15 ngày phải được trả gộp một lần.

2. Người lao động hưởng lương theo tháng được trả một tháng một lần hoặc nửa tháng một lần. Thời điểm trả lương do hai bên thỏa thuận và phải được ấn đnh vào một thời điểm có tính chu kỳ.

3. Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thỏa thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.

4. Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chm quá 30 ngày; nếu trả lương chậm từ 15 ngày trlên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương

Thưa luật sư cho em được hỏi: Doanh nghiệp chúng em chuyên sản xuất giày dép, hiện tại bên em chưa thực hiện việc bồi dưỡng độc hại cho người lao động bằng hiện vật, vậy xin luật sư hướng dẫn em thủ tục này được không ạ? và việc lập hồ sơ này phải đăng ký với cơ quan đơn vị nào? Rất mong sớm nhận được phản hồi của luật sư. Trân trọng! -- Thanks & Best Regards, Mis Hoàng Thị Thông Sdt:

Theo hướng dẫn tại thông tư 25/2013/TT-BLĐTBXH quy định mức hưởng cũng như điều kiện người lao động được hưởng bồi dưỡng bằng hiện vật

Điều 2. Điều kiện được hưởng chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật và mức bồi dưỡng

1. Người lao động được hưởng chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật khi có đủ các điều kiện sau:

a) Làm các nghề, công việc thuộc danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành;

b) Đang làm việc trong môi trường lao động có ít nhất một trong các yếu tố nguy hiểm, độc hại không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép theo quy định của Bộ Y tế hoặc trực tiếp tiếp xúc với các nguồn gây bệnh truyền nhiễm.

Việc xác định các yếu tố quy định tại điểm b Khoản 1 Điều này phải được thực hiện bởi đơn vị đủ điều kiện đo, kiểm tra môi trường lao động theo quy định của Bộ Y tế (sau đây gọi tắt là đơn vị đo,kiểm tra môi trường lao động).

2. Mức bồi dưỡng:

a) Bồi dưỡng bằng hiện vật được tính theo định suất hàng ngày và có giá trị bằng tiền tương ứng theo các mức sau:

- Mức 1: 10.000 đồng;

- Mức 2: 15.000 đồng;

- Mức 3: 20.000 đồng;

- Mức 4: 25.000 đồng.

b) Việc xác định mức bồi dưỡng bằng hiện vật cụ thể theo điều kiện lao động và chỉ tiêu môi trường lao động được quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này.

Điều 3. Nguyên tắc tổ chức bồi dưỡng bằng hiện vật

1. Việc tổ chức bồi dưỡng bằng hiện vật phải thực hiện trong ca hoặc ngày làm việc, bảo đảm thuận tiện và vệ sinh.

2. Không được trả bằng tiền, không được trả vào lương (gồm cả đưa vào đơn giá tiền lương) thay cho hiện vật bồi dưỡng.

3. Trường hợp do tổ chức lao động không ổn định, không thể tổ chức bồi dưỡng tập trung tại chỗ được (ví dụ: làm việc lưu động, phân tán, ít người), người sử dụng lao động phải cấp hiện vật cho người lao động để người lao động có trách nhiệm tự bồi dưỡng theo quy định. Trong trường hợp này, người sử dụng lao động phải lập danh sách cấp phát, có ký nhận của người lao động; thường xuyên kiểm tra việc thực hiện bồi dưỡng của người lao động.

4. Mức bồi dưỡng cụ thể đối với từng người lao động được xác định như sau:

a) Đối với người lao động đủ các điều kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 của Thông tư này, nếu làm việc từ 50% thời giờ làm việc bình thường trở lên của ngày làm việc thì được hưởng cả định suất bồi dưỡng, nếu làm dưới 50% thời giờ làm việc bình thường của ngày làm việc thì được hưởng nửa định suất bồi dưỡng theo quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này;

Trong trường hợp người lao động làm thêm giờ, định suất bồi dưỡng bằng hiện vật được tăng lên tương ứng với số giờ làm thêm theo nguyên tắc trên;

b) Người sử dụng lao động xem xét, quyết định việc thực hiện bồi dưỡng bằng hiện vật ở mức 1 (10.000 đồng) đối với người lao động làm các công việc không thuộc danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành, nhưng đang làm việc trong môi trường lao động có ít nhất một trong các yếu tố nguy hiểm, độc hại không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép hoặc trực tiếp tiếp xúc với các nguồn gây bệnh truyền nhiễm.

5. Chi phí bồi dưỡng bằng hiện vật được hạch toán vào chi phí hoạt động thường xuyên, chi phí sản xuất kinh doanh của cơ sở lao động và là chi phí hợp lý khi tính thuế, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp của cơ sở lao động theo quy định hiện hành của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp; riêng đối với các đối tượng là học sinh, sinh viên thực tập, học nghề, tập nghề thuộc cơ quan nào quản lý thì cơ quan đó cấp kinh phí.

6. Người lao động làm việc trong các ngành, nghề đặc thù được hưởng chế độ ăn định lượng theo quy định của Chính phủ sẽ không được hưởng chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật theo quy định của Thông tư này.

Em chào luật sư. Luật sư ơi cho em hỏi em mới đi làm công ty và đã đóng BHTN được 1 năm 5 tháng, bây giờ công ty giải thể và đã chấm dứt Hợp đồng lao động với em từ 31/03/2016 và bây giờ là 16/06/2016 em chưa kiếm được việc vậy bây giờ em làm đơn xin hưởng BHTN được không ạ(em mới đóng BHTN được hơn 1 năm vậy có được hưởng BHTN không ạ?). Em cám ơn!

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì bạn hết hợp đồng từ ngày 23/09/2015, tính tới thời điểm này 11/11/2015 vẫn chưa quá thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng, do đó bạn vẫn đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu bạn đáp ứng đủ điều kiện quy định tại Điều 49 Luật Việc làm:

"Điều 49. Điều kiện hưởng

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Chết."

5. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng

Như vậy trong trường hợp này, bạn đã tham gia BHXH được đủ 12 tháng bạn sẽ đủ điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp nếu trong thời hạn ba tháng kể từ thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động bạn làm hồ sơ xin hưởng bảo hiểm thất nghiệp

Kính gừi phòng luật sư e có vấn đề liên quan đến việc chấm dứt hợp đồng và bồi thường hợp đồng e chưa hiểu lên nhờ mọi người giúp e. E làm ở một cty thời gian đóng bảo hiểm cũng được khoảng 3 năm. Do thời gian gần đây cty không có đơn hàng để sản xuất lên cho một số công nhân chúng e nghỉ việc và nói bên công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với chúng e. Vậy phòng luật sư có thể cho e biết cty làm như vậy cty có phải bồi thường hợp đồng và trợ cấp xin việc cho chúng e không. Nếu có thì cty phải bồi thường là như thế nào. E xin cảm ơn mọi người trước nhé. Nhờ mọi người tư vấn giúp em.

Trong trường hợp này,công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật do đó bạn sẽ được hưởng các quyền lợi theo quy định tại điều 41 Bộ luật lao động 2019.

Điều 41. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trlại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.

Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trtrợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hỏi đáp về luật lao động khi bị điều chuyển công việc không đúng chuyên môn ?