1. Khái niệm mua trả góp là gì? 

Hiện nay Bộ luật dân sự năm 2015 chưa có định nghĩa cụ thể về việc mua trả góp mà chỉ có các quy định về việc mua trả chậm, trả dần được quy định tại Điều 453. Theo đó việc mua trả chậm, trả dần được hiểu là các bên trong giao dịch dân sự thảo thuận về việc bên mua tài sản sẽ có trách nhiệm trả khoản tiền để mua tài sản theo hình thức là trả chậm, trả dần trong một thời gian nhất định và trong thời gian bên mua chưa hoàn thiện xong số tiền mua tài sản thì bên bán sẽ được quyền bảo lưu quyền sở hữu đối với tài sản đã bán cho bên mua cho đến khi bên mua trả đủ số tiền để mua tài sản (trừ trường hợp ban bán và bên mua có sự thỏa thuận khác). Giao dịch dân sự về việc mua trả chậm, trả dần thì phải được lập thành hợp đồng bằng văn bản. Trong thời gian trả tiền cho tài sản mà mình mua thì bên mua sẽ có quyền sử dụng tài sản mua trả chậm, trả dần này và phải có trách nhiệm chịu mọi rủi ro phát sinh trong quá trình sử dụng trừ trường hợp các bên có những thỏa thuận khác phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và các văn bản pháp luật khác có liên quan

Ngoài ra Khoản 3 Điều 3 Thông tư số 43/2016/TT-NHNN có định nghĩa về việc cho vay trả góp, cụ thể hình thức này là một hình thức cho vay tiêu dùng của một công ty tài chính đối với các khách hàng. Theo hình thức cho vay đó công ty tài chính và khách hàng sẽ tiến hành thỏa thuận trả nợ gốc và lãi tiền vay theo nhiều kỳ hạn trả. Căn cứ vào quy định trên thì có thể hiểu việc mua hàng trả góp là việc một người, một cá nhân mua hàng hóa, tài sản tại một cửa hàng và người mua hàng ký kết hợp đồng mua hàng trả góp với công ty tài chính có điểm giới thiệu dịch vụ tại cửa hàng bán hàng hóa đó. Trong hợp đồng thông thường sẽ có nội dung quy định cụ thể về nghĩa vụ mà bên mua phải trả cho công ty tài chính (khoản này bao gồm trả nợ gốc và cả lãi) với hình thức trả theo nhiều kỳ hạn. Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì các bên phải tuân thủ đầy đủ các quy định về thời hạn, kỳ hạn trả tiền như đã cam kết trong hợp đồng

 

2. Trách nhiệm khi đóng tiền trả góp chậm, trễ hạn

Theo như những nội dung đã được nêu ở mục trên thì các bên trong hợp đồng phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đã được cam kết trong hợp đồng. Theo đó người mua trả góp sẽ phải có trách nhiệm trả đầy đủ tiền cả gốc và lãi theo kỳ hạn mà các bên đã thỏa thuận. Trường hợp bên mua trả góp chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo kỳ hạn đã cam kết trong hợp đầy thì sẽ phải chịu trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ thực hiện trả tiền được quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015, cụ thể người chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền phải có trách nhiệm trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả của mình.

Ngoài ra căn cứ theo quy định tại Khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 Thông tư quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quy định đối với những khách hàng vay mà khi đến hạn thanh toán mà người vay không thực hiện được nghĩa vụ theo như những nội dung đã cam kết (cụ thể là khách hàng không trả được tiền gốc, tiền lãi hoặc trả không đầy đủ nợ gốc/lãi) thì khách hàng vay sẽ phải chịu trách nhiệm như sau: 

  • Khách hàng sẽ chịu phần tiền lãi trên nợ gốc theo lãi suất cho vay mà các bên đã thỏa thuận ở trong hợp đồng mua trả góp. Phần tiền lãi này sẽ được tính tương ứng với thời hạn vay đến hạn chưa trả của khách hàng
  • Đối với những trường hợp mà khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi thì ngoài số tiền phải trả được nêu ở trên thì người vay tiền, người mua trả góp cũng phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng, phần lãi suất này sẽ do các bên tự thỏa thuận với nhau nhưng mức thỏa thuận sẽ không được quyền vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả
  • Đối với những trường hợp khoản vay của người vay bị chuyển nợ quá hạn thì ngoài số tiền đã được nêu ở trên thì khách hàng phải trả tiền trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian châm trả, lãi suất áp dụng đối với trường hợp này sẽ không được vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm mà khoản vay của khách hàng chuyển nợ quá hạn

Ngoài ra nếu trường hợp có căn cứ cho rằng người mua trả góp hoàn toàn có khả năng, có điều kiện để trả khoản tiền này cho tổ chức tín dụng thì người này còn có thể bị xử phạt với mức phạt tiền từ 2 triệu đồng đến 3 triệu đồng theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 15 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP. Còn đối với trường hợp người vay tiền có những hành vi dưới đây là chiếm đoạt số tiền từ 4 triệu đồng trở lên hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản được quy định trong Bộ luật hình sự mà chưa được xóa án tích thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật hình sự năm 2017. Cụ thể các trường hợp: 

  • Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả
  • Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản

Người mua trả góp chậm nộp tiền trả góp còn thể bị đưa vào nhóm nợ xấu và sẽ ảnh hưởng đến khả năng người mua trả góp sẽ đi vay vốn trong tương lai. Căn cứ theo quy định tại Khoản 8 Điều 3 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN định nghĩa nợ xấu là nợ xấu nội bảng gồm các nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5 được phân loại theo quy định tại Điều 10 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN. Theo quy định tại Điều 8 Thông tư này thì ít nhất mỗi tháng một lần trong thời hạn 7 ngày đầu tiên của tháng, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng có căn cứ để xác định người mua trả góp vi phạm về thời gian thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng sẽ tự thực hiện việc phân loại nợ, cam kết ngoại bảng đến thời hạn cuối ngày cuối cùng của tháng trước liền kề, trích lập dự phòng rủi ro theo kết quả tự phân loại nợ, cam kết ngoại bảng và gửi kết quả tự phân loại nợ, cam kết ngoại bảng cho CIC. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được kết quả tự phân loại nợ, cam kết ngoại bảng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì CIC sẽ có trách nhiệm tổng hợp danh sách khách hàng theo nhóm nợ có mức độ rủi ro cao nhất mà các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã tự phân loại và cung cấp cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. 

Sau khi tổ chức tín dụng, ngân hàng nhận được danh sách từ CIC sẽ có trách nhiệm điều chỉnh nhóm nợ của người vay theo danh sách mà CIC đã cung cấp. Do đó các thông tin về nợ xấu của khách hàng sẽ được ngân hàng cập nhật, vậy nên để người mua trả góp đã bị ghi nhận nợ xấu trên hệ thống CIC có thể thiết lập một khoản vay khác là rất khó, vì khả năng thanh toán sẽ không đáp ứng các điều kiện cho vay của ngân hàng, các tổ chức tín dụng.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê đã biên soạn. Trường hợp Quý khách hàng còn bất cứ vướng mắc gì về nội dung đã nêu trên Quý khách hàng có thể liên hệ trực tiếp tới bộ phận Luật sư tư vấn qua tổng đài số: 19006162 để được hỗ trợ trực tiếp. Rất mong nhận được sự hợp tác từ Quý khách hàng. Trân trọng!